TP Hồ Chí Minh đưa chính sách công nghệ vào thực tiễn
TP Hồ Chí Minh từng bước mở rộng hỗ trợ nghiên cứu, khởi nghiệp và chuyển giao công nghệ nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng. Để các chính sách phát huy hiệu quả, Thành phố cần xác định đúng nhu cầu để kết nối nguồn lực và lấy kết quả phục vụ người dân, doanh nghiệp làm thước đo.
Kết nối hỗ trợ từ nghiên cứu đến thị trường
Một quy trình giải quyết hồ sơ còn bất hợp lý, dữ liệu thiếu chính xác, hoặc trách nhiệm phối hợp chưa rõ... đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển đổi số. Theo Tiến sĩ Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam, việc lựa chọn công nghệ cần bắt đầu từ nhận diện những vấn đề ấy, làm rõ nguyên nhân và kết quả cần đạt.
“Chuyển đổi số thành công không bắt đầu từ việc mua thêm công nghệ, mà bắt đầu từ việc xác định đúng vấn đề, đúng dữ liệu, đúng cơ chế và đúng cách đo giá trị công”, TS. Trần Quý nhấn mạnh.
Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu cụ thể đối với việc triển khai các chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại TP Hồ Chí Minh: nguồn lực hỗ trợ cần được kết nối với những bài toán đã xác định rõ nhu cầu, có đơn vị chịu trách nhiệm và có căn cứ đánh giá hiệu quả.
Theo ông Trần Trọng Tuyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh, mô hình tăng trưởng dựa trên thâm dụng lao động và vốn đang dần bộc lộ hạn chế, đặt ra yêu cầu chuyển sang phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khung chính sách năm 2026 của Thành phố được xây dựng theo hướng kết nối các công đoạn từ nghiên cứu, ươm tạo, kiểm chứng đến bảo hộ sở hữu trí tuệ, chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm.
“Khung chính sách của Thành phố được xây dựng theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, viện nghiên cứu, trường đại học là chủ thể quan trọng của hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và hỗ trợ”, ông Tuyên cho biết.
Theo ông, Nghị quyết số 64/2026/NQ-HĐND ngày 22/9/2026 hỗ trợ không hoàn lại chi phí ươm tạo dự án khởi nghiệp sáng tạo thông qua các trung tâm ươm tạo. Mức hỗ trợ được giới thiệu theo ba giai đoạn, gồm 50 triệu đồng/dự án ở giai đoạn ý tưởng, 100 triệu đồng/dự án ở giai đoạn kiểm chứng và 500 triệu đồng/dự án ở giai đoạn tăng tốc.
Với lĩnh vực công nghiệp công nghệ số, Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND ngày 19/6/2026 hỗ trợ một phần chi phí nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm, đào tạo nhân lực và đổi mới công nghệ cho các dự án khởi nghiệp sáng tạo. Các lĩnh vực được đề cập gồm trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, công nghệ bán dẫn, an ninh mạng và các nền tảng số.
Ông Trần Trọng Tuyên nhấn mạnh, hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng để nâng cao năng lực nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm định và phát triển sản phẩm. Theo Nghị quyết số 65/2026/NQ-HĐND ngày 22/9/2026, Thành phố hỗ trợ phát triển trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo đạt cấp tỉnh, cấp quốc gia và tầm cỡ quốc tế, với mức hỗ trợ tối đa từ 50 tỷ đến 100 tỷ đồng.

Ông Trần Trọng Tuyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh, phát biểu tại hội nghị gần đây.
Đối với phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu, nền tảng dữ liệu, năng lực tính toán và hạ tầng phục vụ công nghệ chiến lược, mức hỗ trợ có thể lên đến 25 tỷ đồng đối với nhóm hạ tầng hoặc đơn vị, tùy nội dung, quy mô và yêu cầu của từng dự án.
Ở khâu chuyển giao, Nghị quyết số 62/2026/NQ-HĐND ngày 22/9/2026 hỗ trợ môi giới, tư vấn pháp lý, định giá công nghệ, đào tạo nhân lực tiếp nhận công nghệ, xác lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Mức hỗ trợ có thể lên đến 200 triệu đồng cho mỗi công nghệ trong một năm.
Nghị quyết số 66/2026/NQ-HĐND tạo điều kiện để cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ công lập sử dụng kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ để thành lập hoặc tham gia thành lập doanh nghiệp. Theo ông Trần Trọng Tuyên, đây là một trong những điểm đột phá của khung chính sách mới, hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Chính sách ưu đãi thuế theo Nghị quyết số 59/2026/NQ-HĐND cũng hướng tới hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2027. Các nhóm được nêu gồm doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức khoa học và công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo, tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cùng chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt và cá nhân khởi nghiệp sáng tạo.
Tuy nhiên, ông Tuyên lưu ý việc hỗ trợ tài chính cho các trung tâm nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế cần gắn với những chỉ tiêu cụ thể để bảo đảm hiệu quả hoạt động. Các chỉ tiêu gồm sản phẩm, bằng sáng chế và công nghệ được chuyển giao; doanh thu thương mại hóa và số doanh nghiệp được hỗ trợ; mức độ đóng góp cho kinh tế - xã hội thành phố. Ông đặt ra yêu cầu này khi phân tích chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển các trung tâm theo Nghị quyết số 63/2026/NQ-HĐND.
Xác định đúng bài toán và đo rõ hiệu quả
Theo TS. Trần Quý, xã, phường là nơi trực tiếp cung cấp dịch vụ, tiếp nhận phản ánh và phát hiện sớm vấn đề. Trong điều kiện TP Hồ Chí Minh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp với 168 đơn vị cấp xã, sự khác biệt giữa các địa bàn đòi hỏi nhu cầu ứng dụng công nghệ phải được xác định bằng dữ liệu và ý kiến người dùng.
Ông đề xuất kết hợp dữ liệu vận hành với phản ánh của người dân và doanh nghiệp, đồng thời quan sát quy trình thực tế để nhận diện nhu cầu. Việc đánh giá cần làm rõ tần suất phát sinh vấn đề cùng thời gian và chi phí xử lý. Chất lượng dịch vụ và khả năng tiếp cận của từng nhóm người dùng cũng cần được xem xét để phân tích nguyên nhân trước khi lựa chọn giải pháp.

Cán bộ phường Tân Bình (TP Hồ Chí Minh) hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường số tại “Điểm hỗ trợ dịch vụ công trực tuyến cho người dân”.
Một bài toán ứng dụng công nghệ cần xác định rõ đơn vị chịu trách nhiệm và đối tượng hưởng lợi, đồng thời đặt ra kết quả mong muốn cùng thời hạn thực hiện. Các điều kiện về dữ liệu và hạ tầng cũng như ngân sách và pháp lý phải được tính đến ngay từ đầu. Tiêu chí đánh giá và phương án vận hành sau thử nghiệm cũng cần được xác định trong quá trình này.
Từ đó, địa phương lựa chọn cơ chế triển khai phù hợp với mức độ hoàn thiện của giải pháp. Những vấn đề còn khoảng trống công nghệ cần được nghiên cứu; giải pháp cần kiểm chứng trong thực tế phải qua thử nghiệm trước khi triển khai. Việc mua sắm hoặc thuê dịch vụ phù hợp khi giải pháp đã hoàn thiện. Nếu nguyên nhân nằm ở quy trình hay biểu mẫu hoặc cách phân quyền và phối hợp thì hướng xử lý có thể là cải tiến cách tổ chức công việc.
TS. Trần Quý lưu ý cần tránh chạy theo công nghệ, số hóa quy trình kém hiệu quả, thử nghiệm hình thức hoặc phụ thuộc nhà cung cấp. Với trí tuệ nhân tạo cần phải kiểm tra chất lượng dữ liệu, phân biệt công cụ hỗ trợ với quyết định hành chính chính thức và lưu lại thông tin để kiểm tra khi cần thiết.
Từ góc độ kết nối nguồn lực, PGS.TS Thoại Nam, Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật Điện toán Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh), cho rằng các bài toán phức tạp của địa phương cần sự phối hợp giữa đại học, doanh nghiệp và chính quyền. Sự hợp tác phải bao quát từ tư vấn chiến lược, lựa chọn giải pháp phù hợp đến vận hành hiệu quả.
Theo ông Nam, không có một khuôn mẫu duy nhất phù hợp với mọi địa bàn. Chuyển đổi số cấp xã cần sử dụng chung hạ tầng và tránh trùng lặp, đồng thời có lộ trình đáp ứng đặc thù địa phương. Những nhu cầu mới chưa có sản phẩm phù hợp cần điều kiện phát triển và thử nghiệm trước khi ứng dụng rộng rãi.
Từ nhu cầu thực tế đến giải pháp công nghệ
Xác định rõ vấn đề, kết nối đúng nguồn lực và kiểm chứng kết quả trước khi nhân rộng.
01 | NHẬN DIỆN NHU CẦU
Kết hợp dữ liệu vận hành với phản ánh của người dân, doanh nghiệp và quan sát thực tế.
02 | TÌM ĐÚNG NGUYÊN NHÂN
Làm rõ vướng mắc nằm ở công nghệ hay cách tổ chức công việc, phân quyền và phối hợp.
03 | XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ CẦN ĐẠT
Nêu rõ đơn vị chịu trách nhiệm, đối tượng hưởng lợi, thời hạn và tiêu chí đánh giá.
04 | KẾT NỐI GIẢI PHÁP VÀ NGUỒN LỰC
Huy động viện, trường và doanh nghiệp cùng tham gia; lựa chọn cơ chế triển khai phù hợp.
05 | THÍ ĐIỂM VÀ ĐO LƯỜNG
Thử nghiệm ở quy mô nhỏ, đánh giá chặt chẽ kết quả và khả năng vận hành.
06 | NHÂN RỘNG CÓ KIỂM SOÁT
Mở rộng theo điều kiện thực tế của từng địa bàn, bảo đảm khả năng kết nối và duy trì hoạt động.
Thước đo là kết quả phục vụ
Thời gian xử lý • Chi phí • Chất lượng dịch vụ • Khả năng tiếp cận của người dân
Nguồn: Tổng hợp từ tài liệu của TS. Trần Quý và PGS.TS Thoại Nam.
Để chính sách gắn với nhu cầu thực tế, TS. Trần Quý đề xuất xây dựng danh mục bài toán dùng chung và hướng dẫn cán bộ cấp xã cách xác định những vấn đề cần giải quyết. Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP Hồ Chí Minh đóng vai trò đầu mối kết nối nhu cầu của địa phương với giải pháp và nguồn lực phù hợp. Các giải pháp cần được thí điểm ở quy mô nhỏ và đánh giá chặt chẽ kết quả trước khi nhân rộng có kiểm soát.
“Mục tiêu không phải là nhiều ứng dụng hơn, mà là nhiều vấn đề thật của địa phương được giải quyết tốt hơn, có bằng chứng và có thể nhân rộng”, ông Trần Quý nhấn mạnh.

