Trà tuyết Chế Là - Đánh thức giá trị chè Shan

Trên những sườn núi cao của vùng Chế Là cũ, nay thuộc xã Nấm Dẩn, những đồi chè vẫn xanh giữa mây núi. Từ cây trồng gắn với sinh hoạt hằng ngày của người dân vùng cao, trà tuyết nơi đây đã từng bước trở thành sản phẩm OCOP mang dấu ấn riêng của địa phương.

Trước khi phủ xanh những sườn núi của Chế Là, cây chè từng chỉ được người dân gieo trên những khoảng đất bỏ không nơi lưng đồi. Ở những vùng đất dốc, khó trồng ngô, lúa, bà con lại mang hạt chè về gieo để lấy lá đun nước uống hằng ngày.
Đến nay, không ai còn nhớ chính xác cây chè xuất hiện từ khi nào. Chỉ biết rằng, qua nhiều năm tháng, chè cứ lặng lẽ bén đất giữa núi cao rồi đi vào đời sống của người dân vùng cao Chế Là. Ở độ cao hơn 1.000 m so với mực nước biển, quanh năm mây phủ, những cây chè sinh trưởng tự nhiên giữa khí hậu lạnh của vùng cao. Búp chè dày, phủ lớp lông tơ trắng – đặc trưng của chè Shan tuyết.

Người dân ở đây cho biết, giống chè ban đầu được các cụ trong làng mang từ xã Quảng Nguyên về trồng rải rác ở nhiều khu vực núi cao. Khi ấy, chè chỉ có vài đám nhỏ, mọc xen giữa cỏ dại và cây rừng trên các sườn đồi của Chế Là.

Từ những đám chè nhỏ trên đất dốc, cây chè dần gắn bó với đời sống người dân vùng cao
Những cây chè được chăm theo cách rất tự nhiên. Người dân không trồng thành hàng, cũng không chăm sóc cầu kỳ. Chè chịu sương gió vùng cao rồi bén rễ qua nhiều năm tháng.
Mỗi buổi sáng đi làm đồng, người dân lại tiện tay hái một nắm chè mang về sao thủ công trong chảo gang. Chén nước chè khi ấy không chỉ là thức uống quen thuộc, mà còn trở thành một phần trong nếp sinh hoạt của nhiều gia đình.

Những búp chè Shan tuyết được thu hái thủ công để giữ chất lượng nguyên liệu trước khi chế biến
Theo lời kể của các cụ cao niên trong vùng, năm 1969, khi Hợp tác xã Cốc Độ được thành lập, vùng chè ở Chế Là bắt đầu được quy hoạch và mở rộng tại nhiều thôn. Người dân cùng nhau chăm sóc, thu hái, chế biến rồi chia thành phẩm. Từ những đám chè nhỏ phục vụ sinh hoạt trong gia đình, cây chè dần trở thành nguồn thu nhập của nhiều hộ dân vùng cao.

Thu hái chè Shan tuyết đã trở thành một phần trong đời sống và sinh kế của người dân
Qua năm tháng, màu xanh của chè tiếp tục phủ lên các sườn núi ở vùng Chế Là. Những búp chè non được hái thủ công mỗi ngày vẫn mang theo hương vị quen thuộc của núi rừng. Ở những khoảng đất từng bị bỏ trống ấy, cây chè đã bén rễ vào đời sống của người dân vùng cao theo cách lặng lẽ như thế.

Có một thời gian dài, những đồi chè gần như phát triển tự nhiên giữa núi cao. Sau khi đất được giao về cho các hộ dân quản lý, nhiều diện tích chè ít được chăm sóc do chưa mang lại giá trị kinh tế đáng kể. Những đồi chè từng phủ xanh sườn núi cũng có lúc bị bỏ quên giữa mây núi.

Đồi chè Shan tuyết cổ thụ gần trên 50 năm tuổi tại thôn Cốc Đông, xã Nấm Dẩn
Mãi đến đầu những năm 2000, khi địa phương bắt đầu quy hoạch vùng chè đặc trưng, người dân mới quay lại cắt tỉa, chăm sóc những đồi chè cũ. Từ cây chè mọc tự nhiên trên núi cao, bà con dần chú trọng hơn đến việc giữ vùng nguyên liệu và nâng chất lượng chè Shan tuyết.
Năm 2012, Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp Xuân Mai được thành lập tại thôn Cốc Cộ. Không chỉ thu mua chè cho người dân, Hợp tác xã còn đầu tư máy móc sao chè, từng bước xây dựng thương hiệu trà Shan tuyết của địa phương.

Việc đầu tư máy móc chế biến góp phần ổn định chất lượng và xây dựng thương hiệu Trà tuyết Chế Là
Người dân nơi đây vẫn giữ cách làm chè gần như thủ công từ nhiều năm nay. Chè được chăm sóc tự nhiên, đảm bảo “nói không” với thuốc bảo vệ thực vật để giữ hương vị đặc trưng của chè Shan vùng cao.

Người dân chăm sóc, thu hái chè Shan tuyết phục vụ sản xuất Trà tuyết Chế Là
Mùa chè ở Chế Là thường bắt đầu từ cuối tháng 3 và kéo dài đến khoảng đầu tháng 9. Những ngày vào vụ, khi trời còn chưa tan sương, người dân đã men theo các sườn đồi để hái chè. Việc thu hái thường chỉ kéo dài đến khoảng 10 giờ sáng bởi khi nắng lên, búp chè dễ héo, ảnh hưởng đến chất lượng.

Chè Shan tuyết được sơ chế, phân loại trước khi đưa vào chế biến
Những búp chè non sau khi thu hái được đưa về xưởng và sao ngay trong ngày để giữ độ tươi. Trong không gian xưởng nhỏ giữa núi cao, hơi nóng từ máy sao hòa cùng mùi thơm ngai ngái của chè non lan khắp gian nhà.

Cũng trong năm 2018, chè Shan tuyết nơi đây được công nhận đạt tiêu chuẩn chè hữu cơ. Đến năm 2021, sản phẩm được công nhận OCOP 4 sao. Chè Shan tuyết ở Chế Là có búp to, lá dày, phủ lớp lông tơ trắng đặc trưng. Khi pha, nước chè có màu vàng chanh, vị đắng mát ban đầu nhưng hậu ngọt đậm và giữ vị lâu sau khi thưởng thức.

Từ những búp chè Shan tuyết tươi, Trà tuyết Chế Là được chế biến thành sản phẩm mang dấu ấn riêng của địa phương
Toàn xã hiện có gần 264 ha chè Shan tuyết, trong đó vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất Trà tuyết Chế Là rộng gần 151 ha, được trồng tại 11 thôn thuộc khu vực xã Chế Là cũ. Giá chè búp tươi hiện được thu mua dao động từ 15.000 - 18.000 đồng/kg.
Chia sẻ về thu nhập từ cây chè, chị Ly Thị Sâm, thôn Cốc Cộ, xã Nấm Dẩn cho biết: Gia đình hiện chăm sóc gần 0,8 ha chè Shan tuyết. Mỗi năm, cây chè mang lại thu nhập trên 20 triệu đồng, trở thành một trong những nguồn thu quan trọng, góp phần cải thiện đời sống gia đình.

Trà tuyết Chế Là từng bước khẳng định thương hiệu, trở thành sản phẩm OCOP 4 sao của địa phương
Từ cây trồng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân, chè Shan tuyết nay đã trở thành sinh kế của nhiều hộ dân vùng cao. Việc xây dựng vùng nguyên liệu, liên kết thu mua và phát triển sản phẩm OCOP đã góp phần tạo đầu ra ổn định cho người trồng chè, nâng cao thu nhập và từng bước giảm nghèo bền vững trên địa bàn. Sự phát triển của thương hiệu Trà tuyết Chế Là không chỉ giúp hương chè Shan vùng cao được nhiều người biết đến mà còn góp phần nâng cao giá trị cây chè địa phương.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, cây chè vẫn hiện diện trong đời sống người dân như một phần của núi rừng. Từ những đám chè nhỏ mọc trên đất dốc, chè Shan tuyết nay đã trở thành sản phẩm OCOP, góp phần tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân. Giá trị của cây chè vì thế không chỉ nằm ở hương vị đặc trưng mà còn ở cơ hội phát triển kinh tế mà nó mang lại cho vùng cao.











