Trái phiếu doanh nghiệp 'kẹt lối' khi dòng vốn quẩn quanh bất động sản, ngân hàng
Hơn 122.500 tỉ đồng trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn nửa đầu 2026 trong bối cảnh thị trường vẫn lệ thuộc nặng vào bất động sản và ngân hàng. Cấu trúc mất cân đối này không chỉ làm gia tăng rủi ro hệ thống, mà còn khiến kênh dẫn vốn trung và dài hạn khó phát triển đúng vai trò.
Thông điệp này được các chuyên gia của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam chia sẻ tại buổi họp báo cập nhật triển vọng phát triển kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2026-2027 sáng 10-4.

Ngân hàng và doanh nghiệp bất động sản vẫn là 'tay chơi' chính trên thị trường TPDN riêng lẻ. Ảnh minh họa: VBMA
Theo đó, một trong những điểm nghẽn lớn nhất trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) là mức độ tập trung cao của một nhóm doanh nghiệp ở cả phía tổ chức phát hành và cơ sở nhà đầu tư.
Về phía tổ chức phát hành, ngân hàng thương mại và doanh nghiệp bất động sản chiếm hơn 50% tổng lượng phát hành trái phiếu năm 2018 và trên 90% trong giai đoạn 2024–2025. Về phía nhà đầu tư, các ngân hàng thương mại cũng nắm giữ phần lớn lượng trái phiếu lưu hành, chiếm khoảng 55% tổng dư nợ, trong khi công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí chỉ chiếm khoảng 9%.
Thực tế, sự áp đảo rõ rệt của nhóm doanh nghiệp ngành ngân hàng và bất động sản trên thị trường TPDN riêng lẻ cũng từng được nhiều công ty chứng khoán và tổ chức xếp hạng tín nhiệm khẳng định. Cụ thể, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành đạt khoảng 1,367 triệu tỉ đồng tính tới cuối năm, tương đương 11,9% GDP năm 2024. Trong đó, 80,7% giá trị đang lưu hành thuộc nhóm ngành bất động sản và ngân hàng, theo thống kê của ACBS.
Một điểm đáng chú ý khác tại thị trường Việt Nam là sự tham gia còn rất hạn chế của nhà đầu tư nước ngoài với tỷ lệ chỉ khoảng 0,1%, thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc (21%), Malaysia (14%), Indonesia (14%), Trung Quốc (7%), theo thông tin từ FiinGroups.
Cấu trúc này, theo chuyên gia ADB, đang tạo sự mất cân đối mang tính hệ thống khi khu vực ngân hàng giữ vai trò chi phối cả trung gian tín dụng và thị trường vốn, làm hạn chế khả năng huy động vốn trực tiếp của doanh nghiệp.
Đồng quan điểm, TS Lê Xuân Nghĩa - chuyên gia kinh tế từng cho biết phần lớn vốn được các ngân hàng huy động từ kênh TPDN sẽ ‘chảy’ vào bất động sản, thể hiện qua dư nợ cho vay bất động sản chiếm tỷ trọng trên dưới 20% tổng dư nợ của nền kinh tế.
Sự phụ thuộc của kênh TPDN vào hai ngành này làm giảm tính đa dạng và ổn định của thị trường. “Thiếu sự tham gia của các doanh nghiệp thuộc các ngành sản xuất chủ lực như công nghiệp, nông nghiệp và tiêu dùng khiến kênh TPDN chưa phát huy được đúng tiềm năng vốn có. Nếu cứ ‘bám’ lấy bất động sản và ngân hàng, kênh huy động vốn này sẽ không phát triển đúng với xu thế và nền tảng của một thị trường lành mạnh”, ông Nghĩa chia sẻ tại một hội thảo.
Còn ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia kinh tế quốc gia cấp cao của ADB, cho rằng dòng vốn trái phiếu chủ yếu chảy vào bất động sản và các định chế tài chính phản ánh một thực tế là cấu trúc thị trường vốn chưa “ăn khớp” với bối cảnh hiện tại của Việt Nam, khi Chính phủ đang tập trung phát triển hạ tầng - lĩnh vực đòi hỏi dòng vốn dài hạn, ổn định và chấp nhận độ trễ lợi nhuận.
“Vấn đề cốt lõi không phải thiếu tiền, mà thị trường chưa phân bổ và hấp thụ được rủi ro của các dự án hạ tầng”, ông Hùng phân tích.
Lý giải điều này, chuyên gia của ADB cho biết ở phía cầu các chủ đầu tư đối mặt với bài toán tính khả thi tài chính khi chi phí đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn kéo dài, rủi ro chậm tiến độ và đội vốn. Nhiều dự án không đạt chuẩn “bankable” - tức đủ điều kiện thu hút vốn từ các tổ chức tài chính.
Ở phía cung, cơ sở nhà đầu tư còn hẹp, thiếu các định chế dài hạn như quỹ hưu trí, bảo hiểm. Ngay cả khi có nhu cầu, năng lực đánh giá và quản trị rủi ro hạ tầng vẫn còn hạn chế.
Hơn nữa, thị trường lại thiếu các “mảnh ghép” quan trọng gồm khung pháp lý chưa hoàn thiện, sản phẩm đầu tư chưa đa dạng, công cụ phòng ngừa rủi ro còn thiếu, hệ sinh thái hỗ trợ như xếp hạng tín nhiệm, tư vấn… chưa phát triển đầy đủ.











