Trận tập kích cứ điểm Ngọc Cung Giao (Ngọc Bơ) của Tiểu đoàn 20 đặc công (10/05/1968)
Trong dòng chảy oai hùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Tây Nguyên trở thành một trong những chiến trường khốc liệt nhất, nơi mỗi tấc đất đều thấm đẫm máu xương của các thế hệ cha anh. Giữa đại ngàn Kon Tum (nay sáp nhập thành tỉnh Quảng Ngãi) đầy nắng gió, trận tập kích cứ điểm Ngọc Cung Giao (Ngọc Bơ) rạng sáng ngày 10/05/1968 đã trở thành mốc son chói lọi, ghi dấu trận ra quân đánh thắng trận đầu đầy quả cảm của Tiểu đoàn 20 Đặc công (K20) thuộc Sư đoàn Bộ binh 6.
Vượt qua những chỉ lệnh "quyết tử" nghẹt thở cận kề giờ G, lối đánh áp sát "xuất quỷ nhập thần" của các chiến sĩ đặc công đã đập tan công sự kiên cố của một thế lực quân đội viễn chinh sừng sỏ. Thế nhưng, đằng sau chiến thắng vang dội được đổi bằng những Huân chương cao quý và danh hiệu Anh hùng, là khúc tráng ca đẫm nước mắt về chặng đường 8 ngày đêm rút quân xẻ dọc rừng sâu, về lời thề thủy chung son sắt của những người lính tóc nay đã bạc đầu chưa một ngày nguôi nhớ thương đồng đội vĩnh viễn nằm lại với đất mẹ Tây Nguyên.
PHẦN I: TÌNH HÌNH CHUNG VÀ CÔNG TÁC CHUẨN BỊ
I. TÌNH HÌNH CHUNG
A. Địa hình, thời tiết
Căn cứ Ngọc Cung Giao (còn gọi là Ngọc Bơ) nằm trên đỉnh ngọn núi cùng tên có độ cao khoảng 750m, cách căn cứ biệt kích Plei Cần khoảng 3km về phía đông bắc, cách đường 18 từ 800m – 1000m về phía bắc thuộc thị trấn Plei Cần, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (nay là xãxã Bờ Y., tỉnh Quảng Ngãi ).
Ngọc Cung Giao là điểm cao đột xuất, vượt trội hơn hẳn các đồi núi xung quanh. Địch xây dựng căn cứ tại đây nhằm mưu đồ giá trị chiến thuật lớn: tầm quan sát khống chế rộng, bảo vệ tuyến đường chiến lược 18 từ Tân Cảnh đi ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia. Cùng với các cứ điểm Plei Cần, Ngọc Hồi, Đak Mót và cứ điểm 42 Tân Cảnh, vị trí này tạo thành một bức tường kiên cố ngăn chặn đường vận chuyển cơ động của ta từ tây bắc xuống tây nam Tây Nguyên.
Đỉnh núi Ngọc Cung Giao có ba mỏm với diện tích tương đương nhau là tây bắc, đông bắc và đông nam. Trong đó mỏm đông nam cao hơn hẳn hai mỏm còn lại. Các mỏm núi này vừa có giá trị phòng ngự độc lập, vừa tạo thành thế chân kiềng vững chắc, hỗ trợ chi viện đắc lực cho nhau khi bị tấn công. Xung quanh điểm cao là rừng già bị bom B52 tàn phá, tạo thành vành đai chướng ngại vật ngổn ngang cây đổ và hố bom. Càng tiến gần cứ điểm, địa hình càng quang đãng do địch chủ động đốt phá để dễ dàng quan sát, phát hiện ta tiếp cận.
B. Tình hình địch
Sau chiến dịch Đak Tô 1 (tháng 11 năm 1967), địch chiếm đóng và xây dựng Ngọc Cung Giao thành một cứ điểm phòng ngự mạnh do quân Mỹ trực tiếp đồn trú nhằm khống chế khu vực tây bắc Kon Tum và ngã ba biên giới, quyết tâm cắt đứt đường vận chuyển Bắc – Nam của ta. Căn cứ này cách sân bay Đắc Tô khoảng 2km và cách Plei Cần chỉ khoảng 1km.
Lực lượng địch tại cứ điểm gồm hai đại đội bộ binh thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 8 Mỹ với quân số khoảng 200 tên. Vũ khí trang bị gồm 4 khẩu đại liên, 4 khẩu cối 106,7mm, súng M79, AR15, mìn định hướng và 2 xe tăng yểm trợ bố trí ở giữa và phía nam trận địa. Hệ thống chỉ huy cứ điểm và khu vực truyền tin nằm ở phía tây nam. Địch thiết lập hệ thống công sự kiên cố gồm 31 lô cốt hình lục giác bằng bê tông xếp bao cát liên hoàn.
C. Tình hình ta
Tiểu đoàn Đặc công 20 (mật danh K20) thuộc Sư đoàn Bộ binh 6, Mặt trận Tây Nguyên tham gia trận đánh với đội hình gồm ba đại đội: C56, C58 và C60. Vũ khí trang bị chủ yếu là B40, AK, thủ pháo, lựu đạn và bộc phá.
Trước khi vào chiến trường Tây Nguyên, K20 nằm trong đội hình Sư đoàn 325C, vừa hoàn thành chuỗi chiến đấu khốc liệt, trực tiếp chạm trán với lính thủy đánh bộ Mỹ tại các đồn Cồn Tiên, Đông Tri, Tà Cơn, Làng Vây ở mặt trận Đường 9 (Bắc Quảng Trị). Ngày 23/3/1968, đơn vị nhận lệnh hành quân vào Tây Nguyên và đến Kon Tum vào ngày 24/4. Suốt chặng đường dài đi bộ xuyên rừng, lội suối, leo dốc, vượt qua bao thử thách khắc nghiệt, các chiến sĩ luôn động viên nhau phải đi bằng "đôi chân và cái đầu". Nhờ tinh thần thép, K20 bảo đảm xuất sắc 100% quân số về đích an toàn.
II. TỔ CHỨC CHUẨN BỊ CHIẾN ĐẤU
A. Chủ trương, ý định của Sư đoàn 6
Thực hiện nhiệm vụ tổng tiến công đợt 2 năm 1968 (phối hợp với ngày N toàn miền Nam), Sư đoàn trưởng Chu Phương Đới chỉ thị tập trung lực lượng tiêu diệt các cứ điểm của địch dọc đường 18 – Plei Cần, nhằm kìm chân và thu hút lực lượng địch ở hướng tây bắc Kon Tum.
Ngày 26/4, Ban chỉ huy Tiểu đoàn lên nhận lệnh. Sư đoàn trưởng Chu Phương Đới trải tấm bản đồ, chỉ vào khu vực cứ điểm Ngọc Cung Giao được khoanh bằng mực đen và giao trọng trách: “K20 thay mặt Sư đoàn nổ súng trước ở Tây Nguyên. Cán bộ nhanh chóng điều tra, chuẩn bị xong là đánh, chưa xong cũng đánh vì phối hợp với ngày N toàn miền”. Trước chỉ lệnh khẩn cấp, Ban chỉ huy K20 hỏi thêm về hỏa lực phối hợp, Sư đoàn trưởng nhấn mạnh: “K20 độc lập tác chiến”.
B. Công tác chuẩn bị và quyết tâm chiến đấu
Từ đêm mùng 7 đến ngày 8 tháng 5, tổ trinh sát gồm 13 đồng chí cùng các cán bộ từ mũi trưởng trở lên đã bí mật đi điều tra đồn địch. Ban ngày áp sát quan sát, ban đêm âm thầm luồn sâu qua các lớp hàng rào vào tận nơi. Với phương châm “tai nghe, mắt thấy, tay sờ”, ta đã nắm chắc quy luật bố phòng của quân Mỹ.
Tại vị trí tập kết, chỉ huy tiểu đoàn đã tổ chức giáo dục động viên tư tưởng, huấn luyện bổ sung kỹ thuật tiếp cận, cách sử dụng thủ pháo và bộc phá khối. Hơn 100 đồng chí trực tiếp chiến đấu được chia làm 3 hướng tiến công đánh vào 3 mỏm đồi: C56, C58 và C60. Trong đó, Đại đội 58 được chọn làm mũi chủ công.
Hình ảnh người lãnh đạo chỉ huy tiểu đoàn chuẩn bị cho trận đánh đầu tiên tại Tây Nguyên:

Đại tá Cao Nguyên - Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 20 Đặc công (K20).

Đại tá Nguyễn Trọng Kính - Cựu chiến binh K20, Nguyên Chính trị viên K20 năm 1968, Nguyên Cục trưởng Cục Chính trị Binh chủng Hóa học.
PHẦN II: DIỄN BIẾN TRẬN ĐÁNH QUA LỜI KỂ CỦA CHỈ HUY VÀ NHÂN CHỨNG
I. Hành quân tiếp cận và hai tình huống bất ngờ cận kề giờ G
Đúng 9 giờ sáng ngày 9 tháng 5, Tiểu đoàn K20 xuất quân từ vị trí tập kết. Đến 16 giờ, đơn vị đến vị trí tạm dừng và tiếp tục cắt rừng tiến vào lòng địch. Đêm Tây Nguyên mịt mùng, dưới sự điều hành sát sao từ Sở chỉ huy Sư đoàn và Ban chỉ huy Tiểu đoàn ở tiền tuyến, các chiến sĩ lặng lẽ tiếp cận mục tiêu. Tuy nhiên, hành trình chiếm lĩnh trận địa đã diễn ra với những thử thách nghẹt thở:
Tình huống bất ngờ thứ nhất: Vào giữa trưa ngày 9/5, khi đơn vị vượt qua một đoạn đồi trống, máy bay trinh sát L19 của địch phát hiện và bắn khói chỉ điểm. Đồng chí Thái Hữu Trực (Mũi phó C56) đã cực kỳ mưu trí lao lên dùng mũ chụp đè chặt quả đạn khói, giúp toàn đơn vị vượt qua cửa tử an toàn.
Tình huống bất ngờ thứ hai: Đến 24 giờ đêm, khi cán bộ và trinh sát C58 đi kiểm tra đường mở vào căn cứ thì bất ngờ vướng phải mìn sáng của địch. Hai quả lửa vút lên cao xé toạc màn đêm. Máy bay C130 và trận địa pháo địch bắn dồn dập quanh đồn trong 15 phút. Tổn thất lớn xảy ra: Đại đội trưởng C56 Trưởng Mạnh Cháu và Mũi trưởng Tường của C58 đã anh dũng hy sinh; chiến sĩ Đản (C58) bị thương gãy tay.
Trước tình thế hiểm nghèo, Ban chỉ huy lập tức hội ý khẩn cấp ngay tại trận địa. Nhận định địch chỉ mới nghi ngờ do thú rừng vướng mìn, ta kiên quyết lợi dụng yếu tố bất ngờ để nổ súng, điều động các cán bộ cấp phó lập tiếp quản chỉ huy, đồng thời lùi giờ phát hỏa xuống 2 giờ 30 phút sáng ngày 10/5.
II. Đồng loạt nổ súng và thọc sâu chia cắt
Đến 2 giờ 30 phút rạng sáng ngày 10/5, lệnh phát hỏa phát ra từ hướng Đại đội 58 chủ công do tổ trưởng Nguyễn Thọ Thăng dẫn đầu. Toàn trận địa đồng loạt xông lên. Tiếng bộc phá nổ rền vang, phá tan hoang các khu nhà lính, bãi đỗ xe và khu vực điện đài đồn địch. Các chiến sĩ dũng cảm dùng súng B40 bắn cháy tại chỗ 2 xe tăng Mỹ, đánh sập khu truyền tin và sở chỉ huy đồn địch, làm tê liệt hoàn toàn khả năng co cụm phòng ngự của kẻ thù. Đến 5 giờ sáng, trận đánh cơ bản kết thúc.
Hình ảnh người tổ trưởng kiên cường dẫn đầu mũi chủ công nổ súng tấn công cứ điểm:

Đại tá Nguyễn Thọ Thăng - Cựu chiến binh K20, Nguyên Tổ trưởng mũi tiến công chủ công Đại đội 58, Nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị Cục Kỹ thuật Quân khu 5.
III. Cuộc rút quân khốc liệt qua lời kể của Đại tá Nguyễn Thọ Thăng
Khi trời vừa hửng sáng, địch ở Đắc Tô và các khu vực lân cận điên cuồng tổ chức phản công. Các trận địa pháo của chúng bắn tới tấp xuống trận địa hòng hủy diệt lực lượng ta. Trước tình thế nguy cấp, Tiểu đoàn phát lệnh khẩn cấp yêu cầu nhanh chóng rút khỏi trận địa.
Mũi của anh Thăng còn lại 22 đồng chí, được chia làm hai hướng, bí mật cắt rừng rút về. Biết ta đang rút lui, địch huy động tối đa máy bay, bom bão, pháo bầy kết hợp với thám báo phong tỏa nghẹt thở tất cả các ngả đường rừng. Trên bầu trời, máy bay tâm lý chiến của địch lượn lờ phát loa ra rả kêu gọi Quân giải phóng ra hàng.
Hai cánh quân vừa đói, vừa khát, lầm lũi băng rừng suốt nhiều ngày đêm. Đến ngày thứ sáu, cả hai cánh quân kiệt sức cùng hội tụ về bên cạnh một cây dâu da cổ thụ giữa rừng sâu. Sau nhiều ngày đêm không một hạt cơm vào bụng, nhìn thấy chùm quả rừng, nhiều anh em không nhịn được đã hái ăn vội vã để cầm cự. Bi kịch ập đến khi chất độc từ quả rừng phát tác kết hợp với thể trạng suy kiệt: 10 đồng chí dũng cảm đã vĩnh viễn nằm lại bên gốc cây dâu da ấy. Nén đau thương, anh Thăng cùng những người còn sống tổ chức mai táng cho đồng đội ngay giữa rừng sâu rồi tiếp tục cắt rừng ròng rã suốt hai ngày nữa mới tìm gặp được đơn vị.
PHẦN III: KẾT QUẢ VÀ KÝ ỨC NGƯỜI Ở LẠI
I. Kết quả chiến đấu và danh hiệu cao quý
Trận tập kích cứ điểm Ngọc Cung Giao đã giành thắng lợi vang dội: Quân Mỹ bị diệt gọn một nửa quân số tại trận địa, số còn lại đều bị thương nặng và mất sức chiến đấu. Ta phá hủy toàn bộ công sự, ụ súng, 4 khẩu cối 106,7mm, bắn cháy 2 xe tăng yểm trợ. K20 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phối hợp với ngày N toàn miền trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968.
Với chiến công này, toàn Tiểu đoàn K20 vinh dự được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì; hai đại đội C58 và C60 nhận Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất. Trận đánh ghi dấu vào lịch sử truyền thống của tiểu đoàn với bài học “Ra quân đánh thắng trận đầu”. Ghi nhận những công lao đó, K20 đã vinh dự được Nhà nước hai lần phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.
Hình ảnh các cựu chiến binh, nhân chứng lịch sử tự hào về truyền thống anh hùng của đơn vị:

Đại úy Phan Thanh Hải - Cựu chiến binh Tiểu đoàn 20 Đặc công (K20).

Đại tá Bùi Minh Hiếu - Nguyên Trưởng phòng Đặc công B3, Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đặc công 198.
II. Sự tàn khốc của chiến tranh và những hy sinh lặng thầm
Chiến thắng đổi bằng xương máu đỏ rực đất Tây Nguyên. Trong trận Ngọc Cung Giao và chặng đường rút lui sau đó, K20 có 30 dũng sĩ anh dũng hy sinh và 10 đồng chí bị lạc, mất tích (trong đó có 10 đồng chí kiệt sức ngộ độc bên gốc cây dâu da rừng thuộc mũi anh Thăng).
Trong số những người thất lạc năm ấy, có câu chuyện kiên cường cảm động của đồng chí Nguyễn Công Huần. Bị lạc một thời gian rất dài giữa rừng sâu Tây Nguyên đói khát, nhưng bằng ý chí phi thường, đồng chí đã tìm đường trở về với đơn vị, đưa quân số mất tích thực tế của trận đánh xuống còn 9 đồng chí.
Hình ảnh người chiến sĩ kiên cường trở về từ rừng sâu năm xưa:

Trung tá Nguyễn Công Huần - Nguyên Tiểu đoàn trưởng K20, người chiến sĩ kiên cường tìm đường trở về với đơn vị sau nhiều ngày lạc giữa rừng sâu Tây Nguyên.
III. Nghĩa tình đồng đội và những bước chân trở lại chiến trường xưa
Nửα thế kỷ trôi qua, những người lính đặc công năm xưa may mắn sống sót chưa một ngày nguôi ngoai nỗi nhớ thương những người anh em đã nằm lại dưới làn đạn pháo hay bên gốc cây dâu da nơi rừng sâu.
Tại ngôi nhà ở số nhà 787 đường Ngô Quyền, thành phố Đà Nẵng, Đại tá Nguyễn Thọ Thăng trang trọng lập một bát hương thờ chung cho các anh em K20. Cứ đến ngày 10 tháng 5 âm lịch hàng năm – ngày giỗ trận Ngọc Cung Giao, ông lại chỉnh tề quân phục, trang nghiêm làm lễ mặc niệm và rắc lễ vật ra đường, đau đáu gọi khẽ tên từng người đồng đội mong linh hồn các liệt sĩ tìm đường về tụ họp.
Những năm gần đây, Ban liên lạc Cựu chiến binh Tiểu đoàn K20 Đặc công lại tổ chức những chuyến hành quân đặc biệt tìm về chiến trường xưa. Đứng trên đỉnh đồi Ngọc Cung Giao lộng gió, những người lính năm xưa nay tóc đã bạc trắng, rưng rưng dòng lệ thắp nén tâm hương tri ân, lặng lẽ thả những nhành hoa đỏ thắm xuống triền đồi sâu thẳm, gửi gắm tấm lòng qua mấy dòng thơ nghẹn ngào:
“...Máu xương đã thấm đất này
Khói hương là để giải bày tình thâm.
Hương cắm đất, đau nhói lòng,
Nhớ ngày sum họp, ngẫm buồn chia ly!”
Khói hương bay mịt mù giữa đồi cao, như lời thầm thì của người ở lại gửi đến những dũng sĩ đặc công K20 anh hùng đã vĩnh viễn hòa mình vào lòng đất mẹ Kon Tum vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
T.Đ
-----------
Tài liệu tham khảo:
Quân sử Việt Nam
Báo Đà Nẵng (Cây dâu da)
Nghĩ về một trận đánh- Đại tá Nguyễn Trọng Kính (Nguyên chinh trị viên K20 đặc công từ 1968)
- Hình ảnh trong bài ( https://youtu.be/rfhExcjvnVM?si=o7IDQvbuCfb-nMTH).
-
