Trăn trở giữ nghề đan lát ở Trường Sơn
Gần 50 năm gắn bó với nghề đan lát truyền thống của đồng bào Bru-Vân Kiều, ông Lê Hồng Na (70 tuổi) ở bản Cây Cà, xã Trường Sơn vẫn ngày ngày cần mẫn bên những nan mây, sợi lạt. Giữa nhịp sống hiện đại đang len lỏi vào từng bản làng vùng cao, điều khiến người nghệ nhân già trăn trở không phải là thu nhập ít ỏi từ nghề, mà là nỗi lo những giá trị văn hóa cha ông để lại dần mai một khi ngày càng ít người trẻ muốn học và nối nghiệp.
Thầm lặng giữ nghề
Ở tuổi 70, mỗi ngày ông Lê Hồng Na vẫn đều đặn ngồi bên hiên tỉ mẩn chẻ từng nan tre, vuốt từng sợi mây để đan thành những vật dụng quen thuộc của đồng bào Bru-Vân Kiều. Tính đến nay, nghề đan lát đã gắn bó với ông hơn nửa đời người nhưng vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu.

Để đan được 1 sản phẩm (mâm cơm) ông Na phải mất hơn 3 ngày nhưng chỉ bán được 500 nghìn đồng - Ảnh: P.P
Giữa không gian yên ắng của núi rừng Trường Sơn, tiếng dao chẻ lạt, tiếng nan tre va vào nhau lách cách vẫn vang lên mỗi ngày. Đó cũng là âm thanh đã theo ông Na suốt hơn 50 năm qua. Với ông, cái nghề truyền thống mà cha ông để lại đã như một phần máu thịt, bền bỉ qua năm tháng.
Trên vách nhà, những chiếc gùi, mẹt, mâm đựng cơm, ống đựng cơm đi rẫy được treo ngay ngắn. Mỗi sản phẩm mang một hình dáng, công dụng khác nhau nhưng đều có điểm chung là được tạo nên từ đôi bàn tay khéo léo, sự kiên nhẫn và tình yêu nghề thầm lặng của người nghệ nhân già.
Ông Na kể, ngày trước trong các bản làng Bru-Vân Kiều ở Trường Sơn, đan lát là kỹ năng gần như bắt buộc đối với đàn ông. "Thời đó chưa có đồ nhựa, đồ nhôm như bây giờ. Từ cái gùi, cái mâm, đến cái rổ, cái nia…do người dân trong bản tự làm. Con trai Bru-Vân Kiều lớn lên hầu như ai cũng biết đan lát", ông nhớ lại.
Hơn 10 tuổi, ông Na đã bắt đầu học nghề đan lát từ cha và những người lớn tuổi trong bản. Không ai cầm tay chỉ việc, tất cả đều học bằng cách quan sát rồi tự làm. Hỏng thì làm lại, sai thì sửa tiếp. Những chiếc gùi đầu tiên còn méo mó, nhiều múi đan chưa được đều. Nhưng càng làm, ông càng bị cuốn hút bởi nghề đan lát truyền thống của đồng bào mình và gắn bó cho đến ngày nay.
Với ông Na, mỗi sản phẩm không chỉ là vật dụng phục vụ sinh hoạt mà còn là nơi lưu giữ tri thức dân gian, tập quán và đời sống tinh thần của người Bru-Vân Kiều. Điều khiến ông tâm đắc nhất là những hoa văn xuất hiện trên sản phẩm đan lát. Theo ông, đó là phần tinh túy nhất của nghề.
"Đan cái khung không khó bằng tạo hoa văn. Muốn hoa văn đẹp phải có kinh nghiệm và sự tỉ mỉ. Mỗi họa tiết đều mang ý nghĩa riêng, gắn với niềm tin của người về thần linh, thiên nhiên và cuộc sống. Nó cũng kể lại câu chuyện về một cộng đồng dân cư gắn bó bao đời với núi rừng Trường Sơn, được núi rừng che chở, bao bọc", ông Na chia sẻ.
Khắc khoải tìm người nối nghiệp
Từng là một nghề truyền thống mà hầu như người đàn ông Bru-Vân Kiều cũng biết làm, thế mà đến nay, nghề đan lát đang dần bị đẩy lùi trước nhịp sống hiện đại. Những chiếc mâm cơm (Cu Tôốc), gùi (A Chói), gùi nhỏ (Cà Nhăng), giỏ nhỏ đựng cơm (Típ), giỏ đựng cá (Cù Pá) … từng hiện diện trong mọi gia đình nay không còn được sử dụng nhiều. Đồ nhựa, đồ kim loại giá rẻ và tiện lợi dần thay thế những sản phẩm thủ công làm từ mây tre.

Ở cái tuổi 70, mỗi ngày ông Na vẫn cần mẫn chẻ tre, vót mây đan lát và đau đáu mong chờ người kế tục - Ảnh: P.P
Nhu cầu giảm, đầu ra hạn chế khiến thu nhập từ nghề đan lát ngày càng thấp, không thể đáp ứng nhu cầu cuộc sống. Ông Na tính nhẩm, có những sản phẩm phải mất nhiều ngày mới hoàn thành nhưng số tiền thu được không bằng một ngày công lao động phổ thông.
"Thanh niên đi làm công nhân, đi làm thợ hồ… một ngày cũng kiếm được hơn 300 nghìn đồng. Miềng ngồi đan mấy ngày mới bán được bán được một sản phẩm. Như cái mâm đựng cơm, phải mất 3 ngày mới đan xong, nhưng chỉ bán được 500 nghìn. Bởi vậy người trẻ ít ai muốn học nghề đan lát nữa", ông Na cho hay.
Biết vậy, nhưng nhiều năm qua, ông Na vẫn đau đáu tìm người kế tục. Mỗi khi gặp thanh niên khéo tay trong bản, ông đều ngỏ ý truyền nghề. Có người đồng ý học thử nhưng chỉ vài ngày rồi bỏ. Có người từ chối vì cho rằng nghề không còn phù hợp với cuộc sống hiện nay. Ngay cả con cháu trong gia đình cũng không ai muốn theo nghề, mà lựa chọn những công việc khác có thu nhập ổn định hơn.
Trong câu chuyện với chúng tôi, người nghệ nhân già cho biết, ông hiểu sự lựa chọn ấy. Cuộc sống thay đổi, người trẻ có nhiều cơ hội mưu sinh hơn thế hệ cha ông. Nhưng mỗi lần nhìn những sản phẩm truyền thống ít dần trong đời sống thường ngày, ông vẫn không khỏi chạnh lòng.
"Nghề này không chỉ để kiếm sống. Nó là văn hóa của người Bru-Vân Kiều. Nếu không còn ai biết làm thì mai này con cháu sẽ không hiểu hết cuộc sống của cha ông ngày trước ra sao", ông trầm ngâm.

Những vật dụng đan lát truyền thống của người Bru-Vân Kiều nay ít dần người sử dụng - Ảnh: P.P
Theo lãnh đạo xã Trường Sơn, hiện nay số người còn duy trì nghề đan lát truyền thống trên địa bàn chỉ đếm trên đầu ngón tay và phần lớn đều đã cao tuổi. Trong khi đó, lớp trẻ ngày càng ít quan tâm đến nghề do thu nhập thấp và thiếu thị trường tiêu thụ.
Chúng tôi rời đi, bên hiên nhà, ông Na lại tiếp tục đan những nan mây cuối cùng cho chiếc gùi đang làm dở. Đôi tay vẫn thoăn thoắt như thói quen đã ăn sâu vào cuộc sống. Ông bảo, còn sức thì còn làm. Không phải để bán được nhiều sản phẩm hơn, mà để giữ lại một phần ký ức của dân tộc mình giữa đại ngàn Trường Sơn.
Nhưng chúng tôi cũng hiểu rằng, phía sau sự bền bỉ ấy vẫn là nỗi lo chưa nguôi của người nghệ nhân đã dành gần cả cuộc đời cho nghề truyền thống cha ông. Ở đó có tình yêu dành cho nghề truyền thống, có niềm tự hào về văn hóa dân tộc mình và cả nỗi khắc khoải về một người kế nghiệp vẫn đang mòn mỏi đợi chờ.
"Nếu có một người trẻ thật sự yêu và muốn học nghề thì tốt biết mấy, miềng sẵn sàng truyền dạy hết những gì mình biết", câu nói đó, ông nhiều lần lặp lại trong suối câu chuyện với chúng tôi…











