Tránh đầu tư dàn trải trong đào tạo nhân lực bán dẫn Việt Nam

Một trong những điểm nghẽn trong đào tạo nhân lực ngành bán dẫn là các trường đại học cùng phát triển nhiều lĩnh vực đào tạo, từ chương trình học đến hạ tầng, phòng thí nghiệm và đội ngũ giảng viên…

Việt Nam đang thúc đẩy đào tạo nhân lực phục vụ phát triển công nghiệp bán dẫn. Theo TS. Hà Thúc Viên, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Việt Đức (VGU), bài toán nguồn nhân lực cần được nhìn nhận trên toàn bộ hệ sinh thái kỹ thuật bán dẫn, thay vì tập trung chủ yếu vào thiết kế vi mạch.

NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG NHÂN LỰC NGÀNH BÁN DẪN

Kỹ thuật bán dẫn không chỉ dừng lại ở lĩnh vực thiết kế mạch tích hợp (IC design), mà còn bao gồm kiểm thử, đóng gói, sản xuất và thiết bị. Mỗi công đoạn đòi hỏi những nhóm kiến thức và kỹ năng khác nhau, từ điện tử, khoa học máy tính, toán học đến khoa học vật liệu, cơ khí, cơ điện tử và vật lý.

“Chúng ta cần có chiến lược nhân lực bao phủ đầy đủ hệ sinh thái kỹ thuật”, ông Viên nhấn mạnh.

Theo ông, ba nhóm năng lực cần được chú trọng gồm thiết kế vi mạch; kiểm thử và đóng gói; sản xuất và thiết bị. Trong đó, thiết kế vi mạch đòi hỏi sự kết hợp giữa điện tử, tính toán và toán học; kiểm thử, đóng gói cần kiến thức về điện tử, vật liệu, cơ khí và phần mềm; còn sản xuất và thiết bị liên quan đến các lĩnh vực kỹ thuật chuyên sâu khác.

TS. Hà Thúc Viên cũng chỉ ra những khoảng cách giữa yêu cầu thực tế của ngành bán dẫn và hoạt động đào tạo đại học cần được thu hẹp. Những vấn đề này liên quan đến năng lực thực hành chuyên sâu, định hướng phát triển thị trường, sự liên thông giữa các bậc đào tạo và chất lượng đào tạo theo chiều sâu.

Trong đó, năng lực thực hành và khả năng sử dụng các công cụ chuyên môn là những yêu cầu cần được chú trọng. Bên cạnh đó, chương trình đào tạo cần gắn với các lĩnh vực bán dẫn Việt Nam định hướng phát triển, đồng thời bảo đảm sự phù hợp giữa trình độ đào tạo và yêu cầu công việc, từ bậc đại học đến thạc sĩ, tiến sĩ.

Một khoảng cách khác là năng lực ngoại ngữ. Theo ông Viên, dù trình độ tiếng Anh của sinh viên Việt Nam ngày càng được cải thiện, khả năng sử dụng ngoại ngữ vẫn cần nâng cao để đáp ứng yêu cầu làm việc trong môi trường quốc tế và liên ngành.

TĂNG CƯỜNG CHIA SẺ NGUỒN LỰC GIỮA CÁC TRƯỜNG

Một trong những điểm nghẽn được TS. Hà Thúc Viên chỉ ra là xu hướng các trường đại học cùng phát triển nhiều lĩnh vực đào tạo bán dẫn, từ chương trình học đến hạ tầng, phòng thí nghiệm và đội ngũ giảng viên.

“Hiện nay đây là điểm nghẽn của chúng ta: gần như các trường đại học đều đi theo một xu thế là tập trung phát triển tất cả mọi lĩnh vực đào tạo liên quan đến bán dẫn”, ông Viên nhận định.

Các thầy cô giáo ở các trường đại học, trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung, phải có năng lực, kinh nghiệm thực tế từ doanh nghiệp, từ khu vực công nghiệp, đồng thời có năng lực về lý thuyết học thuật.

Theo ông, mỗi trường đại học phải phát triển chương trình đào tạo và các hướng nghiên cứu dựa trên năng lực và thế mạnh của mình. Đồng thời, các trường chia sẻ nguồn lực có tính liên ngành, bởi vì “không thể có một trường đại học nào phát triển toàn diện cho tất cả mọi lĩnh vực liên quan đến kỹ thuật bán dẫn”.

“Chính vì thế, chúng ta cần có một chiến lược hợp tác toàn diện, từ góc độ học thuật cho đến tinh thần hợp tác đi vào thực tế, giữa các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu, cũng như khu vực doanh nghiệp trong lĩnh vực này”, Tiến sĩ Hà Thúc Viên nói.

Bên cạnh việc phát triển về quy mô để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho tương lai đến năm 2030, chuyên gia cũng đề cập đến “một điều rất quan trọng là năng lực của giảng viên, của những người tham gia công tác giảng dạy”. Theo ông, các thầy cô giáo ở các trường đại học, trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung, phải có năng lực, kinh nghiệm thực tế từ doanh nghiệp, từ khu vực công nghiệp, đồng thời có năng lực về lý thuyết học thuật. Chính vì thế, theo ông, yêu cầu là phải có sự gắn kết rất chặt chẽ giữa trường đại học, đội ngũ nghiên cứu và khu vực công nghiệp.

Chia sẻ về kinh nghiệm của Đại học Việt Đức, Tiến sĩ Hà Thúc viên cho biết khi tuyển dụng giảng viên cho trường, tiêu chí về kinh nghiệm làm việc ở khu vực công nghiệp rất quan trọng. “Các ứng viên giảng viên, bên cạnh việc phải có bằng tiến sĩ, buộc phải có thời gian làm việc từ 3 đến 5 năm trong khu vực công nghiệp”, ông cho biết.

TS Hà Thúc Viên nhấn mạnh cần có chiến lược nhân lực bao phủ đầy đủ hệ sinh thái kỹ thuật. Ảnh: B.B

TS Hà Thúc Viên nhấn mạnh cần có chiến lược nhân lực bao phủ đầy đủ hệ sinh thái kỹ thuật. Ảnh: B.B

“Đây là một yếu tố rất quan trọng, đặc biệt đối với các ngành kỹ thuật, vì giảng viên không chỉ giảng dạy lý thuyết mà còn là những người hiểu biết rất kỹ nhu cầu của ngành công nghiệp như thế nào. Hơn nữa, các giảng viên có mối quan hệ rất chặt chẽ với khu vực công nghiệp”. Ông nhấn mạnh sự kết hợp giữa trường đại học và khu vực công nghiệp là một trong những yếu tố rất quan trọng.

XÂY DỰNG HỆ THỐNG THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ SINH VIÊN SAU TỐT NGHIỆP

Để phát triển hệ sinh thái bán dẫn từ góc độ đại học, Tiến sĩ Hà Thúc Viên nhấn mạnh sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách phân bổ nguồn lực, cơ chế kết nối với doanh nghiệp và đổi mới hoạt động đào tạo, nghiên cứu.

Thứ nhất, chính phủ và các bộ, ngành sẽ bố trí nguồn tài chính cho các trường đại học trên cơ sở phân công nhiệm vụ phù hợp với thế mạnh của từng trường. Thay vì để mỗi trường tự phát triển theo một hướng riêng, cần có sự tính toán tổng thể nhằm phân bổ nguồn lực hợp lý, hạn chế chồng chéo và phát huy năng lực bổ trợ giữa các cơ sở đào tạo.

Thứ hai, tăng cường kết nối giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghiệp. Theo Tiến sĩ Hà Thúc Viên, giảng viên cần có cơ chế làm việc linh hoạt, cho phép tham gia đồng thời hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và các dự án thực tiễn tại doanh nghiệp. Đặc biệt, cần tạo điều kiện để giảng viên dành một khoảng thời gian làm việc trong khu vực công nghiệp.

“Theo kinh nghiệm tại Đức được đề cập trong bài trình bày, sau khoảng 5 năm giảng dạy và nghiên cứu, giảng viên các trường kỹ thuật có thể dành một năm làm việc tại doanh nghiệp”, TS Viên nói. “Cơ chế này giúp giảng viên cập nhật công nghệ, nắm bắt nhu cầu thực tế và đưa những vấn đề từ doanh nghiệp trở lại hoạt động giảng dạy, nghiên cứu tại trường. Điều này càng có ý nghĩa trong bối cảnh tốc độ phát triển công nghệ tại các tập đoàn thường nhanh hơn hoạt động nghiên cứu trong trường đại học”.

Thứ ba, về nguồn lực, đầu tư của Nhà nước không nên chỉ dừng ở việc xây dựng hạ tầng và phòng thí nghiệm, mà cần bảo đảm cả kinh phí vận hành thường xuyên. Đây là điều kiện để các trường duy trì hoạt động nghiên cứu, thực hành và khai thác hiệu quả cơ sở vật chất đã được đầu tư.

Thứ tư, xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá sinh viên sau tốt nghiệp, trong đó có việc khảo sát sau khoảng 12 tháng làm việc. Theo Tiến sĩ, phản hồi từ sinh viên và đơn vị sử dụng lao động sẽ giúp các trường đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu công việc, nhận diện những khoảng trống về kiến thức, kỹ năng và điều chỉnh chương trình đào tạo phù hợp hơn.

“Qua đó, các trường có thể nâng cao năng lực thực hành, phát triển toàn diện kỹ năng cho sinh viên, giúp người học sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong lĩnh vực bán dẫn”, ông nói.

Bảo Bình

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/techconnect/tranh-dau-tu-dan-trai-trong-dao-tao-nhan-luc-ban-dan-viet-nam.htm