Trao quyền, khoán theo kết quả: Cú hích mới cho công nghệ chiến lược

Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ tạo ra một cách tiếp cận mới trong bố trí, quản lý và sử dụng nguồn lực cho các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, với điểm nhấn là tăng quyền chủ động cho tổ chức chủ trì, gắn kinh phí với kết quả và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, phát triển công nghệ.

Nhà nước có thể hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược do Nhà nước đặt hàng. Ảnh: MOIT.

Nhà nước có thể hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược do Nhà nước đặt hàng. Ảnh: MOIT.

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược. Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/8/2026.

Điểm đáng chú ý của Thông tư là cơ chế tài chính được thiết kế theo đặc thù của công nghệ chiến lược, thay vì chỉ quản lý kinh phí theo cách tiếp cận truyền thống. Nhà nước có thể hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng, nhằm nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng hoặc công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, quốc phòng, an ninh và những nhiệm vụ có mức độ rủi ro cao về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Với các nhiệm vụ hướng tới phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 70% kinh phí. Phần còn lại do tổ chức chủ trì, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện bố trí từ nguồn kinh phí đối ứng theo quyết định phê duyệt. Mức hỗ trợ được xác định dựa trên nhiều tiêu chí, trong đó có giai đoạn phát triển công nghệ, mức độ rủi ro, khả năng huy động nguồn lực ngoài ngân sách, khả năng ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa và đóng góp vào năng lực tự chủ công nghệ, năng lực cạnh tranh quốc gia.

Từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả

Một thay đổi có tính đột phá nằm ở cách lập, cấp và quyết toán kinh phí. Thông tư quy định dự toán phải gắn với mục tiêu, sản phẩm đầu ra và kết quả cuối cùng; đồng thời bảo đảm sự đồng bộ của cả chuỗi phát triển sản phẩm, từ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất nguyên mẫu, thử nghiệm đến chuyển giao và thương mại hóa. Dự toán được lập theo từng gói công việc và tổng hợp theo các mốc đánh giá.

Đáng chú ý, việc cấp, quản lý, thanh toán và quyết toán kinh phí chủ yếu áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng theo kết quả đạt được tại từng mốc đánh giá. Kết quả của mỗi mốc là căn cứ để thanh toán, quyết toán phần kinh phí tương ứng và cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo.

Cách tiếp cận này giúp chuyển trọng tâm từ việc kiểm soát từng khoản chi sang kiểm soát mục tiêu, sản phẩm và kết quả. Khi mốc đánh giá đạt yêu cầu, phần kinh phí khoán tương ứng được thanh toán; nếu chưa đạt, phần kinh phí của mốc đó chưa được thanh toán theo quy định.

Trao thêm quyền chủ động cho tổ chức chủ trì

Thông tư cũng mở rộng đáng kể quyền chủ động trong quá trình thực hiện. Tổ chức chủ trì được điều chỉnh kinh phí giữa các nội dung trong cùng gói công việc hoặc giữa các gói công việc thuộc cùng một mốc đánh giá; được điều chỉnh tiến độ bố trí kinh phí đối ứng và sử dụng kinh phí dự phòng trong phạm vi dự toán được duyệt, miễn không làm thay đổi tổng mức ngân sách và tỷ lệ kinh phí đối ứng đã được phê duyệt.

Một điểm mới khác là cơ chế tự chủ trong lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp. Tổ chức chủ trì được tự quyết định và chịu trách nhiệm về lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp khi mua sắm, thuê thiết bị, máy móc, hàng hóa, dịch vụ phục vụ trực tiếp nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, đồng thời phải bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả và không xung đột lợi ích.

Chấp nhận rủi ro, tạo dư địa cho nghiên cứu đột phá

Một cơ chế đáng chú ý khác là cho phép triển khai cùng lúc nhiều phương án nghiên cứu độc lập. Cơ quan quản lý có thể lựa chọn từ hai tổ chức, doanh nghiệp trở lên để thực hiện các phương án khác nhau nhưng cùng hướng tới một mục tiêu, yêu cầu và tiêu chí đánh giá. Mỗi phương án được lập dự toán, giao kinh phí, ký hợp đồng và theo dõi riêng. Phương án không đạt yêu cầu có thể bị chấm dứt, trong khi phương án đạt kết quả tiếp tục được cấp kinh phí theo các mốc đánh giá.

Đặc biệt, đối với nhiệm vụ thuộc trường hợp rủi ro được chấp nhận, tổ chức chủ trì không phải hoàn trả phần kinh phí ngân sách đã sử dụng đúng mục tiêu, nội dung, phạm vi và quy định. Cơ chế này tạo dư địa để các nhà khoa học, doanh nghiệp mạnh dạn tiếp cận những bài toán công nghệ có độ khó và rủi ro cao.

Bên cạnh đó, Thông tư cho phép bố trí kinh phí dự phòng để xử lý những phát sinh trong quá trình thực hiện; với nhiệm vụ cấp bách, tổ chức chủ trì còn có thể sử dụng nguồn tài chính hợp pháp của mình để ứng trước kinh phí trước khi được ngân sách nhà nước cấp và sau đó tổng hợp để thanh toán, quyết toán.

Cùng với các cơ chế trên, việc quản lý kinh phí được số hóa thông qua Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Tổ chức chủ trì có trách nhiệm cập nhật đầy đủ, kịp thời, trung thực tình hình sử dụng kinh phí trên nền tảng; cơ quan quản lý theo dõi, giám sát theo nguyên tắc quản lý rủi ro.

Thông tư 49/2026/TT-BKHCN không chỉ quy định cách chi và quyết toán kinh phí mà thiết lập một cơ chế tài chính linh hoạt hơn cho công nghệ chiến lược: Nhà nước tập trung nguồn lực cho những nhiệm vụ có ý nghĩa quốc gia, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, trao quyền chủ động cho đơn vị thực hiện và đồng thời siết trách nhiệm bằng kết quả, mốc đánh giá và dữ liệu số. Đây là nền tảng tài chính để rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến làm chủ, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ chiến lược.

Thu Hương

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/trao-quyen-khoan-theo-ket-qua-cu-hich-moi-cho-cong-nghe-chien-luoc.html