Trao truyền kỹ nghệ, tiếp sức cho công nghiệp văn hóa
Giữ nghề không chỉ là lưu giữ kỹ thuật xưa mà còn là trao truyền để người trẻ tiếp tục làm giàu giá trị văn hóa truyền thống. Qua những lớp học do nghệ nhân trực tiếp hướng dẫn, kỹ nghệ dân gian được tiếp nối, khơi mở sức sáng tạo và tạo nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô.

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tấn Phát dạy nghề sơn mài cho các học viên tại Làng cổ Đường Lâm (phường Sơn Tây). Ảnh: Nguyễn Tấn
Tiếp lửa cho thế hệ kế cận
Nhiều năm nay, Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tấn Phát ở làng cổ Đường Lâm (phường Sơn Tây) vẫn miệt mài truyền dạy nghề sơn mài. Với anh, mỗi sản phẩm không chỉ đòi hỏi đôi bàn tay khéo léo, mà còn chứa đựng tri thức, kỹ thuật và tư duy thẩm mỹ được tích lũy qua nhiều thế hệ. Người học vì thế phải hiểu chất liệu, nắm vững các công đoạn từ tạo vóc, xử lý bề mặt đến sơn, mài và hoàn thiện.
“Nghệ nhân không nên chỉ là người cuối cùng nắm giữ một kỹ thuật mà cần trở thành người mở đường để thế hệ trẻ tiếp tục sáng tạo trên nền tảng truyền thống”, anh Nguyễn Tấn Phát chia sẻ.
Tại làng tò he Xuân La (xã Phượng Dực), nghệ nhân Đặng Văn Hậu tổ chức truyền dạy nghề nặn tò he theo từng đối tượng. Người học bắt đầu làm quen từ những hình đơn giản, sau đó nâng dần độ khó. Với trẻ nhỏ, mục tiêu trước hết là giúp các em tiếp xúc, hiểu thêm về văn hóa dân gian; với người muốn theo nghề lâu dài, việc học phải hướng tới làm chủ kỹ thuật và sáng tạo mẫu sản phẩm.
Không chỉ các nghề thủ công, nghệ thuật múa rối nước tại làng Đào Thục (xã Thư Lâm) cũng được tiếp nối qua những lớp truyền dạy do nghệ nhân trực tiếp hướng dẫn.
Theo nghệ nhân Nguyễn Thế Nghị, hoạt động này được duy trì khoảng 5 năm nay, mỗi năm tổ chức ít nhất một đợt, có năm 2 đợt. Điều đáng mừng là, nếu trước đây, một số phụ huynh cho rằng việc học nghệ thuật múa rối nước không thiết thực, thì nay nhiều người chủ động đăng ký, động viên con em tham gia. Việc gia nhập phường rối cũng không dừng ở một khóa học ngắn ngày. Người mới phải trải qua 2 năm thử thách, tham gia các hoạt động chung và tuân thủ quy chế của phường. Qua đó, người kế tục không chỉ học kỹ thuật biểu diễn, mà còn tiếp nhận nếp sinh hoạt và tinh thần cộng đồng của phường nghề.
Gắn truyền nghề với cơ hội phát triển
Những lớp học và tâm huyết của các nghệ nhân đang góp phần giữ mạch nghề, trao truyền để người trẻ tiếp tục làm giàu giá trị văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, từ học được nghề đến có thể sống bằng nghề vẫn là chặng đường dài.
Theo nghệ nhân Đặng Văn Hậu, người muốn thành thạo nghề tò he, có thu nhập tốt có thể phải rèn luyện khoảng 5 năm. Trong thời gian đó, người học chưa đủ tay nghề để có thu nhập ổn định, dễ nản lòng và chuyển sang công việc khác.

Nghệ nhân Nguyễn Thế Nghị chia sẻ về nghệ thuật múa rối nước của làng Đào Thục (xã Thư Lâm). Ảnh: Nguyễn Thế
Thực tế, khả năng kế tục đội ngũ thợ giỏi, nghệ nhân cũng có sự khác biệt giữa các làng nghề. Theo Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Trịnh Quốc Đạt, những nơi sản xuất phát triển, sản phẩm có thị trường và thu nhập tương đối tốt thường thu hút lao động trẻ. Điển hình như xã Bát Tràng vừa thu hút lao động từ địa phương lân cận, vừa có những gia đình định hướng cho con em học chuyên ngành gốm sứ rồi trở về phát triển nghề, nghiên cứu mẫu mã, dòng men mới. Ngược lại, ở những nghề thu nhập thấp, đầu ra thiếu ổn định, người trẻ ít mặn mà tiếp nối.
Để tạo con đường gắn bó lâu dài với nghề, Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tấn Phát đề xuất, tăng cường liên kết giữa nghệ nhân, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và các không gian văn hóa, du lịch. Qua đó, người học có cơ hội đi từ tiếp cận kỹ nghệ đến thực hành, sáng tạo sản phẩm và tìm kiếm việc làm. Theo ông Nguyễn Tấn Phát, cần phân biệt rõ hoạt động trải nghiệm ngắn hạn với đào tạo chuyên sâu dành cho những người thực sự lựa chọn nghề làm công việc lâu dài.
Đây cũng là vấn đề cần được quan tâm trong xây dựng chính sách phát triển công nghiệp văn hóa. Theo Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa trình Quốc hội tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, dự thảo đề xuất xây dựng khung năng lực nhân lực theo vị trí việc làm; có chính sách thu hút nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia tham gia đào tạo, đồng thời hỗ trợ người học thông qua học bổng, miễn học phí, hỗ trợ sinh hoạt phí và tín dụng. Những chính sách này cần được cụ thể hóa trong thực tiễn, tạo điều kiện để nghệ nhân truyền nghề, người học có cơ hội rèn luyện kỹ năng và các cơ sở sản xuất có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển.
Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Trịnh Quốc Đạt cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải gắn đào tạo chính quy với nghệ nhân và thực tế sản xuất. Trong đó, cơ sở đào tạo xây dựng chương trình phù hợp, nghệ nhân trực tiếp truyền dạy kỹ thuật, chính quyền hỗ trợ cơ chế, nguồn lực, còn hiệp hội và doanh nghiệp kết nối sản xuất với thị trường. Nghệ nhân Nguyễn Thế Nghị đề xuất kết nối doanh nghiệp du lịch với người dân, phát triển hoạt động trải nghiệm để du khách không chỉ xem biểu diễn múa rối nước, mà còn tìm hiểu đời sống văn hóa của làng nghề.
Trao truyền kỹ nghệ vì thế không chỉ là giữ lại kỹ thuật của cha ông, mà còn là chuẩn bị nguồn nhân lực để di sản tiếp tục được thực hành, sáng tạo và tạo giá trị trong đời sống hôm nay. Khi nghệ nhân được ghi nhận xứng đáng, người học nhìn thấy cơ hội phát triển và sản phẩm truyền thống có chỗ đứng trên thị trường, nghề xưa mới có thêm sức sống, đóng góp thiết thực vào phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô.
