Trẻ hóa ung thư vú, đối tượng nào cần sàng lọc sớm?
Gần đây, qua khám sàng lọc tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu nhiều bệnh nhân trẻ tuổi (dưới tuổi 35) được phát hiện ung thư vú.
Vô tình phát hiện ung thư vú
Trong lần khám sức khỏe định kỳ cách đây 1 tháng, chị B.X.L (30 tuổi, trú tại Hà Nội) được phát hiện khối u bên vú trái. Sau sinh thiết, chị được chẩn đoán mắc K vú, tuy nhiên trong giai đoạn sớm (giai đoạn 2).

Sàng lọc sớm giúp điều trị hiệu quả ung thư vú.
Kém may mắn hơn T.A.T (22 tuổi, Bắc Ninh) đến khám khi khối u vú được sinh thiết có kết quả ung thư biểu mô tuyến thể nhầy vú trái. Trước đó, T sờ thấy có khối u cộm ở ngực, nghĩ do thay đổi sinh lý theo chu kỳ phụ nữ hằng tháng nên chủ quan không thăm khám kỹ lưỡng.
PGS.TS Phạm Cẩm Phương - Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu chia sẻ: Tại Việt Nam, mỗi năm có hơn 24.000 ca mắc mới ung thư vú. Xu hướng mắc bệnh ở nhóm 30-40 tuổi đang gia tăng, đặt ra thách thức lớn cho sức khỏe cộng đồng. Những người có tiền sử gia đình mắc ung thư được xem là nhóm nguy cơ cao, cần đặc biệt lưu ý tầm soát sớm và định kỳ để bảo vệ sức khỏe.
Theo BS Phương, mới đây, chỉ trong 3 ngày (10-12/3), Bệnh viện Bạch Mai đã ghi nhận 8 trường hợp ung thư được phát hiện qua khám sàng lọc tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu. Đáng chú ý, có tới 5 ca ung thư vú, nhiều bệnh nhân trẻ chỉ 28 và 31 tuổi. Điểm chung của các bệnh nhân trẻ tuổi vừa được phát hiện tại Bạch Mai là không có dấu hiệu bất thường. Họ đến khám đơn giản vì ý thức tầm soát sức khỏe định kỳ.
"Các trường hợp nếu đợi đến khi đau, sờ thấy khối u hoặc có tổn thương xâm lấn mới đi khám thì cơ hội điều trị sẽ giảm đáng kể. Nhờ sự phối hợp của các kỹ thuật như siêu âm, chụp X-quang vú, MRI, nhiều tổn thương đã được phát hiện ngay từ giai đoạn sớm nhất.
Ung thư vú nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm, tỷ lệ sống sau 5 năm có thể lên tới trên 90%. Điều này không chỉ giúp bảo tồn tuyến vú, đảm bảo tính thẩm mỹ, mà còn giảm gánh nặng điều trị và chi phí cho người bệnh", BS Phương thông tin.

Việc phát hiện sớm ung thư vú mang lại hiệu quả về kinh tế, thời gian và chất lượng điều trị.
Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú
Theo PGS.TS. BS Phạm Cẩm Phương, có nhiều yếu tố nguy cơ tăng khả năng mắc ung thư vú. Ví như, yếu tố di truyền khi tiền sử gia đình có bà, mẹ, cô dì, chị em, con gái mắc bệnh hoặc đã được xác định mang các đột biến gen di truyền liên quan đến ung thư vú như gen BRCA1, BRCA2…; Tuổi tác, phụ nữ từ 40 tuổi trở lên có nguy cơ cao hơn; Tiền sử bệnh, người bệnh từng xạ trị vùng ngực, mắc ung thư vú một bên, ung thư buồng trứng, nội mạc tử cung, đại tràng; Yếu tố sinh sản, với phụ nữ kinh nguyệt sớm (trước 12 tuổi), mãn kinh muộn (sau 55 tuổi), mang thai muộn (>30 tuổi), không sinh con hoặc không cho con bú. Bên cạnh đó còn yếu tố lối sống thiếu khoa học, béo phì, hút thuốc lá,..
Phụ nữ từ 40 tuổi, đặc biệt người có yếu tố nguy cơ (béo phì, tiền sử gia đình, không sinh con), nên tầm soát định kỳ hàng năm. Đối với các trường hợp tiền sử gia đình có người thân mắc ung thư, nên được tầm soát sớm để tìm các nguyên nhân do yếu tố di truyền qua xét nghiệm gen BRCA1/BRCA2 để tư vấn di truyền cũng như lựa chọn phác đồ điều trị tối ưu cho những đối tượng được xác định mang các gen này.
BS Phương thông tin thêm về các phương pháp chẩn đoán ung thư vú hiện nay, có siêu âm vú, đánh giá tổn thương u, hướng dẫn sinh thiết hoặc chọc hút dịch, thường chỉ định cho phụ nữ trẻ (<30 tuổi), vú đã phẫu thuật thẩm mỹ, hoặc theo dõi trong thai kỳ.
Chụp X-quang tuyến vú (Mammography), nhằm phát hiện tổn thương nhỏ, kể cả khi chưa sờ thấy u. Lưu ý, phương pháp này hạn chế cho thai phụ 3 tháng đầu.
Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) áp dụng cho nang vú, hạch nghi ngờ, cho kết quả nhanh trong 15-20 phút.
Sinh thiết lõi dưới hướng dẫn siêu âm/X-quang, chỉ định khi nghi ngờ tổn thương ác tính (BIRADS 4-5), giúp chẩn đoán mô bệnh học, đánh giá thụ thể ER, PR, HER2, Ki-67 để cá thể hóa điều trị...












