Triển khai một bộ sách giáo khoa: Không 'đóng khung' cách dạy - học

Sử dụng một bộ sách giáo khoa (SGK) không đồng nghĩa với dạy học đồng loạt hay áp đặt khuôn mẫu chung cho mọi lớp học.

Cô Phạm Thị Thanh Hà hướng dẫn học trò trong giờ học. Ảnh: NVCC

Cô Phạm Thị Thanh Hà hướng dẫn học trò trong giờ học. Ảnh: NVCC

Điều cốt lõi nằm ở năng lực của giáo viên trong việc vận dụng linh hoạt SGK, tổ chức hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá phù hợp với đối tượng học sinh, thay vì lệ thuộc SGK.

SGK không phải “pháp lệnh”

Cô Phạm Thị Thanh Hà - Trường Tiểu học Hiến Nam (Phố Hiến, Hưng Yên), cho rằng sử dụng một bộ SGK thống nhất giúp giảm áp lực lựa chọn sách, thuận lợi cho quản lý chuyên môn, chuyển trường, kiểm tra đánh giá và bảo đảm mặt bằng kiến thức chung giữa các địa phương. Điều nhiều người băn khoăn là liệu có quay trở lại tình trạng dạy học rập khuôn, khiến học sinh, giáo viên mất đi sự sáng tạo.

Tuy nhiên, theo cô Phạm Thị Thanh Hà, vấn đề không nằm ở việc sử dụng một hay nhiều bộ SGK, mà ở cách nhìn nhận đúng vai trò của SGK trong dạy học. SGK là học liệu trung tâm, không phải pháp lệnh giảng dạy. Nếu giáo viên coi sách là khuôn mẫu cứng nhắc thì dù có một hay nhiều bộ sách, việc dạy học vẫn dễ rơi vào lối mòn.

Ngược lại, nếu xem sách là nền tảng để thiết kế hoạt động học tập thì ngay cả khi dùng chung một bộ sách, mỗi lớp học vẫn có thể rất khác nhau, sinh động và phù hợp với học sinh địa phương. Cùng một bài học nhưng giáo viên ở thành phố có thể tận dụng công nghệ, video và trải nghiệm số; trong khi giáo viên ở nông thôn hoặc miền núi có thể gắn bài học với đồng ruộng, làng nghề hay phong tục địa phương. Chính sự linh hoạt đó mới tạo nên chất lượng thực sự của giáo dục.

Cô Đỗ Thị Hồi - Trường Tiểu học Lạc Hòa 1 (Vĩnh Châu, Cần Thơ), nhấn mạnh tinh thần của Chương trình GDPT 2018: SGK không phải “pháp lệnh”, mà chỉ là một trong những học liệu để giáo viên tổ chức dạy học. Điều quan trọng nhất là giáo viên phải bám sát mục tiêu, yêu cầu cần đạt của chương trình, từ đó linh hoạt lựa chọn nội dung, ngữ liệu, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, trình độ học sinh.

Nội dung trong SGK nếu quá dài, khó hoặc chưa thực sự phù hợp, giáo viên hoàn toàn có thể điều chỉnh, thay thế ngữ liệu hoặc thay đổi cách tiếp cận để học sinh dễ hiểu và tiếp thu hiệu quả hơn, miễn vẫn bảo đảm mục tiêu bài học. Về kiểm tra, đánh giá, cần thực hiện theo hướng đánh giá sự tiến bộ và phát triển của từng học sinh, thay vì so sánh học sinh này với học sinh khác.

“Chẳng hạn, với bài “Phép cộng không nhớ trong phạm vi 1000” ở lớp 2, mục tiêu cốt lõi là học sinh thực hiện được phép cộng không nhớ trong phạm vi 1000. Giáo viên có thể linh hoạt thay đổi số liệu, bài toán, hoạt động khám phá hoặc hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp với học sinh. Điều cần giữ vững không phải dạy nguyên theo sách, mà giúp học sinh đạt được yêu cầu cần đạt của chương trình”, cô Hồi nêu ví dụ.

Ảnh minh họa INT.

Chủ động, sáng tạo, không máy móc

Theo PGS.TS Ngô Vũ Thu Hằng - Trường Đại học Sư phạm, điều quan trọng không nằm ở “dạy đúng từng dòng trong SGK”, mà ở việc thông qua các hoạt động học tập phù hợp để giúp học sinh hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực theo yêu cầu của chương trình. Vì vậy, nhà trường, giáo viên cần tránh tình trạng đồng nhất SGK với chương trình, dạy học rập khuôn, máy móc hoặc quá lệ thuộc vào các hoạt động, ngữ liệu có sẵn trong sách.

Để thực hiện tốt mục tiêu đó, PGS.TS Ngô Vũ Thu Hằng lưu ý, trong quá trình xây dựng kế hoạch giáo dục và thiết kế bài dạy, nhà trường, giáo viên cần căn cứ yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT 2018 để tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá phù hợp.

Cụ thể, SGK cần được sử dụng như một học liệu dạy học giúp thuận lợi triển khai chương trình. Tuy nhiên, giáo viên không nên sử dụng một cách máy móc mà cần chủ động lựa chọn, điều chỉnh, bổ sung ngữ liệu, học liệu và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với học sinh, điều kiện thực tiễn.

Các tài liệu khác nên được phối hợp sử dụng, tham khảo, giúp giáo viên có thêm ngữ liệu, học liệu phù hợp với thực tế (nhất là phù hợp với học sinh của lớp, trường). Việc chuyển từ chủ yếu truyền đạt nội dung sang tổ chức hoạt động học tập, hướng dẫn học sinh khám phá, hợp tác, trải nghiệm, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề trong học tập, cuộc sống cũng là yêu cầu quan trọng với giáo viên.

Trong tổ chức dạy học, PGS.TS Ngô Vũ Thu Hằng nhấn mạnh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; không nhất thiết phải thực hiện nguyên vẹn các hoạt động đã thiết kế sẵn trong SGK nếu chưa phù hợp với điều kiện thực tế lớp học.

Tùy vào đặc điểm học sinh, điều kiện địa phương và nhà trường, giáo viên có thể điều chỉnh ngữ liệu, ví dụ, cho gần gũi với học sinh; tăng cường hoạt động trải nghiệm, thảo luận, hợp tác nhóm; sử dụng câu hỏi mở, tình huống thực tiễn, nhiệm vụ vận dụng; tổ chức học tập theo dự án, theo chủ đề hoặc tích hợp liên môn khi phù hợp; khai thác thêm học liệu số, tài liệu tham khảo và các nguồn học liệu từ thực tiễn. Qua đó, học sinh không chỉ “biết kiến thức”, mà còn biết vận dụng kiến thức, hình thành năng lực tự học, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, phát triển các phẩm chất cần thiết.

Trong kiểm tra, đánh giá, PGS.TS Ngô Vũ Thu Hằng lưu ý bám sát yêu cầu cần đạt của chương trình và định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; tránh kiểm tra ghi nhớ máy móc hoặc lặp lại nguyên dạng các ngữ liệu, bài tập trong SGK. Giáo viên tăng cường sử dụng ngữ liệu mới, tình huống mới; đánh giá khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; kết hợp đánh giá thường xuyên với đánh giá định kỳ; coi trọng quá trình học tập, sự tiến bộ, nỗ lực của học sinh.

Đa dạng hóa hình thức đánh giá như quan sát, sản phẩm học tập, thuyết trình, dự án, thực hành, tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng. Đánh giá cần hướng tới mục tiêu hỗ trợ học sinh học tập tốt hơn, thay vì chỉ phân loại hay kiểm tra mức độ ghi nhớ kiến thức.

“Nhà trường giữ vai trò rất quan trọng trong bảo đảm tinh thần đổi mới được thực hiện thực chất. Nhà trường cần xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với điều kiện thực tiễn; tạo môi trường khuyến khích đổi mới chuyên môn; tăng cường sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học; hỗ trợ giáo viên phát triển năng lực thiết kế hoạt động học và kiểm tra, đánh giá.

Đồng thời, giảm áp lực hình thức, hồ sơ không cần thiết; xây dựng văn hóa dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Cần tạo sự thống nhất nhận thức giữa cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh về vai trò của SGK, tránh tâm lý coi SGK là “chuẩn duy nhất” để dạy học và kiểm tra, đánh giá”, PGS.TS Ngô Vũ Thu Hằng nhấn mạnh.

“Chương trình là căn cứ pháp lý và chuyên môn cốt lõi để tổ chức dạy học. SGK là học liệu quan trọng hỗ trợ thực hiện chương trình. Thực tiễn của địa phương, nhà trường, học sinh là cơ sở để giáo viên vận dụng linh hoạt, sáng tạo nhằm bảo đảm chất lượng giáo dục và sự phát triển của học sinh”, PGS.TS Ngô Vũ Thu Hằng nhấn mạnh.

Hiếu Nguyễn

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/trien-khai-mot-bo-sach-giao-khoa-khong-dong-khung-cach-day-hoc-post777473.html