Triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW Xây dựng Chương trình giám sát quốc gia về đầu tư nước ngoài
Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ là định hướng phát triển với khu vực này mà còn là một phần trong chiến lược đổi mới mô hình tăng trưởng. Để những mục tiêu chiến lược của Nghị quyết đi vào cuộc sống, bên cạnh hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, vai trò giám sát của Quốc hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Bước chuyển từ thu hút vốn sang thu hút công nghệ
Sau 4 thập kỷ mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã trở thành một điểm đến hấp dẫn của dòng vốn quốc tế tại khu vực châu Á. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện đóng góp tỷ trọng lớn trong xuất khẩu, tạo việc làm cho hàng triệu lao động, bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển và góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, bối cảnh phát triển hiện nay đã khác rất nhiều so với giai đoạn đầu đổi mới. Việt Nam đang hướng tới trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2035 và nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Để đạt mục tiêu này, nền kinh tế không thể tiếp tục dựa vào lợi thế lao động giá rẻ hay mở rộng quy mô vốn đầu tư, mà phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động.

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không ngừng phát triển, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng. Ảnh: TL
Chính vì vậy, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là định hướng phát triển đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mà còn là một phần trong chiến lược tái cấu trúc mô hình tăng trưởng quốc gia.
Điểm nổi bật của Nghị quyết là sự chuyển đổi trong tư duy phát triển. Nếu trước đây mục tiêu chủ yếu là thu hút nhiều dự án và nhiều vốn đầu tư hơn thì nay trọng tâm được đặt vào chất lượng, hiệu quả và khả năng lan tỏa của dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Nghị quyết cũng đặt ra những chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 như nằm trong nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh; thu hút từ 40 - 50 tỷ USD vốn đăng ký mỗi năm, với vốn thực hiện đạt 30 - 40 tỷ USD; nâng tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực lên 45 - 50%; có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia; tỷ lệ lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động đạt khoảng 80%... Đây là những mục tiêu tham vọng nhưng hoàn toàn có cơ sở nếu được triển khai bằng các giải pháp đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả.
Giám sát cần chuyển sang đánh giá hiệu quả thực chất
Để những mục tiêu chiến lược của Nghị quyết 10 đi vào cuộc sống, bên cạnh việc hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, vai trò giám sát của Quốc hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Thực tiễn cho thấy, không ít chủ trương, chính sách lớn gặp khó khăn trong quá trình triển khai do thiếu cơ chế theo dõi, đánh giá và giám sát hiệu quả. Đối với Nghị quyết 10, yêu cầu này càng cấp thiết bởi đây là chiến lược dài hạn liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Vì vậy, Quốc hội cần phát huy mạnh mẽ chức năng giám sát tối cao nhằm bảo đảm các mục tiêu của Nghị quyết được thực hiện đầy đủ và nhất quán trong thực tiễn.
Cùng với sự thay đổi trong tư duy thu hút đầu tư, nội dung giám sát cũng cần được đổi mới tương ứng. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là số lượng dự án, quy mô vốn hay tiến độ giải ngân, thì nay cần chuyển sang đánh giá hiệu quả thực chất của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế. Giám sát không dừng ở việc thực hiện các chỉ tiêu thu hút đầu tư, mà còn phải làm rõ mức độ đóng góp của khu vực này đối với chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Đồng thời, hoạt động giám sát cần trả lời những câu hỏi quan trọng: Các chính sách ưu đãi đầu tư có thực sự tạo ra giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế không? Doanh nghiệp Việt Nam có tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu không? Năng lực công nghệ quốc gia có được cải thiện nhờ dòng vốn đầu tư nước ngoài không? Đó chính là những tiêu chí phản ánh chất lượng phát triển của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới.
Năm trụ cột giám sát chiến lược
Để bảo đảm việc thực hiện Nghị quyết 10 đạt hiệu quả cao nhất, cần nghiên cứu xây dựng Chương trình giám sát quốc gia về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2026 - 2035 dưới sự chủ trì của Quốc hội. Chương trình này không chỉ giúp theo dõi tiến độ thực hiện các mục tiêu đã đề ra mà còn tạo cơ sở để kịp thời điều chỉnh chính sách trước những biến động nhanh chóng của môi trường đầu tư toàn cầu.
Để hoạt động giám sát đi vào thực chất, cần hình thành hệ thống chỉ tiêu đánh giá thống nhất trên phạm vi cả nước. Trên cơ sở mục tiêu của Nghị quyết 10, có thể tập trung vào năm trụ cột giám sát chiến lược.
Thứ nhất, giám sát chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài. Các chỉ tiêu cần được theo dõi bao gồm: tỷ lệ dự án công nghệ cao, tỷ lệ dự án nghiên cứu - phát triển, năng suất lao động, giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam và mức độ tham gia vào các ngành công nghệ chiến lược.
Thứ hai, giám sát chuyển giao công nghệ. Đây là mục tiêu cốt lõi của mô hình đầu tư nước ngoài thế hệ mới. Việc đánh giá cần dựa trên số lượng công nghệ được chuyển giao, số bằng sáng chế được đăng ký, mức độ ứng dụng công nghệ trong doanh nghiệp Việt Nam và khả năng tiếp nhận công nghệ của khu vực kinh tế trong nước.
Thứ ba, giám sát sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam. Thành công của Nghị quyết không chỉ nằm ở việc thu hút được các tập đoàn đa quốc gia mà còn ở khả năng hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp nội địa đủ năng lực tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Vì vậy, cần theo dõi sát tỷ lệ nội địa hóa, số lượng nhà cung ứng cấp 1 của Việt Nam cũng như giá trị hàng hóa và dịch vụ được mua từ doanh nghiệp trong nước.
Thứ tư, giám sát phát triển nguồn nhân lực. Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư công nghệ cao hiện nay, nguồn nhân lực chất lượng cao là lợi thế quyết định. Các chỉ tiêu về lao động kỹ thuật cao, chuyên gia R&D, tỷ lệ lao động được đào tạo lại và khả năng đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các ngành công nghệ chiến lược cần được đánh giá thường xuyên.
Thứ năm, giám sát phát triển xanh và bền vững. Trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang trở thành xu thế toàn cầu, các chỉ tiêu như phát thải carbon, hiệu quả sử dụng năng lượng, tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo và mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường quốc tế cần được đưa vào hệ thống giám sát quốc gia.
Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những quốc gia thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài đều xây dựng được cơ chế giám sát hiệu quả đối với việc thực hiện chính sách.
Tại Hàn Quốc, Quốc hội thường xuyên giám sát các chương trình phát triển công nghiệp chiến lược và đánh giá đóng góp của đầu tư nước ngoài đối với năng lực công nghệ quốc gia.
Tại Singapore, các chương trình ưu đãi đầu tư được rà soát định kỳ dựa trên hiệu quả kinh tế và khả năng tạo ra giá trị công nghệ.
Tại Nhật Bản, việc đánh giá tác động lan tỏa của đầu tư nước ngoài đối với doanh nghiệp nội địa luôn là một nội dung quan trọng trong quá trình hoạch định chính sách.
Đối với Việt Nam, có thể nghiên cứu triển khai lộ trình giám sát theo từng giai đoạn. Cụ thể, giai đoạn 2026 - 2028 tập trung giám sát hoàn thiện thể chế; giai đoạn 2028 - 2030 giám sát chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài; giai đoạn 2030 - 2032 giám sát chuyển giao công nghệ; và giai đoạn 2032 - 2035 đánh giá hiệu quả tổng thể cũng như tác động lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế.




![[Video] Tiền gửi của người dân vào ngân hàng tiếp tục lập kỷ lục mới](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_06_14_14_55390561/ee12721d70569908c047.jpg)






