Trọn lời thề với Đảng, với Dân
Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I năm 1946 là sự kiện chính trị trọng đại, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam 'hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử'. Nơi Thủ đô Khu Giải phóng, Thủ đô Kháng chiến Tuyên Quang, tinh thần phấn khởi trước Ngày hội lớn được kết tinh thành sức mạnh đoàn kết, cử tri hân hoan, sáng suốt lựa chọn bầu ra những đại biểu ưu tú, góp phần đặt nền móng cho thể chế dân chủ đầu tiên của nước nhà.
Ngày hội non sông 80 năm trước
Năm 1945, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong bộn bề gian khó của một chính quyền non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tầm nhìn chiến lược về một cơ quan dân cử. Người khẳng định: Nhân dân phải thực sự được hưởng chế độ dân chủ thông qua quyền bầu cử. Liên tiếp các Sắc lệnh số 14-SL và 51-SL ra đời thể hiện sự gấp rút và quyết tâm của Chính phủ lâm thời trong việc tìm kiếm những người “đủ chí, đủ tài, đủ đức” để gánh vác vận mệnh quốc gia.
Vào thời điểm đó, tại Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang trước khi sáp nhập), mặc dù muôn vàn khó khăn khi thù trong giặc ngoài vây hãm, giặc đói, giặc dốt bủa vây, nhưng không gì ngăn nổi bước chân của đồng bào các dân tộc hướng về Ngày hội lớn. Khắp bản làng từ vùng thấp đến vùng cao, từ những triền núi đá tai mèo ở Đồng Văn đến vùng Chiêm Hóa, Na Hang, không khí náo nức bao trùm; đồng bào nô nức tham gia ngày hội của toàn dân với tâm thế hào hứng và tràn đầy kỳ vọng. Đó là sự kỳ vọng vào một đội ngũ lãnh đạo thực chất, thực tài, gánh vác, chèo lái đất nước vững vàng trong tương lai. Nhân dân hăng hái tự tay cầm lá phiếu thực hiện quyền công dân lần đầu tiên trong đời.

Kết thúc Ngày hội non sông, cử tri Tuyên Quang và Hà Giang khi đó đã tin tưởng gửi gắm niềm tin vào 4 gương mặt đại biểu xuất sắc. Tại Tuyên Quang: Ông Tạ Xuân Thu, Bí thư Tỉnh ủy và ông Ma Văn Kinh, một nhân sĩ cách mạng tiêu biểu dân tộc Tày, người có công lớn xây dựng chính quyền tại Châu Khánh Thiện trúng cử. Tại Hà Giang: Ông Vương Chí Thành (Vương Chí Sình), Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Đồng Văn, người thủ lĩnh của đồng bào Mông và ông Nguyễn Tri Phương, Chủ tịch UBND tỉnh trúng cử.
Họ là những đại biểu xuất sắc, người con ưu tú của Đảng, của cách mạng và đồng bào dân tộc thiểu số, đại diện cho khối đại đoàn kết dân tộc, là cầu nối vững chắc giữa ý chí của đồng bào vùng cao với cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước.
Trọn lời hứa với Đảng, với Dân
Trong nhiệm kỳ lịch sử của Quốc hội khóa I, các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh Tuyên Quang đã sống và hành động xứng đáng với sự kỳ vọng của Nhân dân.
Dấu ấn dân chủ ấy được thể hiện rõ nét nhất vào ngày 31-10-1946, cuộc chất vấn đầu tiên trong lịch sử Quốc hội. Với tinh thần dân chủ, thẳng thắn, các đại biểu đã thảo luận, chất vấn Chính phủ những vấn đề liên quan đến chính sách, đời sống Nhân dân. Thông qua những người đại diện của mình, cử tri Tuyên Quang lần đầu tiên thực hiện quyền đòi hỏi Chính phủ trả lời về các công việc đại sự. Các đại biểu của tỉnh không chỉ ngồi ở nghị trường mà còn lặn lội về với dân. Chỉ tính riêng Kỳ họp thứ 6, họ đã thực hiện tiếp xúc cử tri tại 11 điểm với hơn 3.300 người tham dự, lắng nghe từ việc giúp dân sản xuất đến chính sách khen thưởng người có công.
Đặc biệt, đại biểu Tạ Xuân Thu đã để lại dấu ấn với bài tham luận sâu sắc về xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, nhấn mạnh mối quan hệ “máu thịt” giữa quân và dân. Trong khi đại biểu Vương Chí Sình để lại ấn tượng sâu sắc trong suốt nhiệm kỳ khi biến những lời hứa với cử tri thành hành động thực tế. Là người được Bác Hồ kết nghĩa anh em, tặng thanh bảo kiếm với dòng chữ “Tận trung báo quốc - Bất thụ nô lệ”, ông đã dành trọn tâm huyết cho sự nghiệp bảo vệ biên cương. Là ĐBQH, Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Đồng Văn, ông cùng các cộng sự tiễu phỉ, tuyên truyền, vận động bà con đoàn kết theo Đảng, bỏ cây thuốc phiện để trồng ngô, phát triển chăn nuôi, giúp đồng bào thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, quyết liệt thực hiện chủ trương mở đường Hạnh phúc để phá thế cô lập của vùng đất biên cương. Ông Vương Duy Bảo, nguyên hàm Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), hậu duệ của ĐBQH Vương Chí Sình chia sẻ: “Ông Vương Chí Sình là biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới thời của ông, đồng bào Mông không còn “bỏ rẫy, đốt nhà” để di cư vào miền Nam, không theo tà đạo, tuyệt đối tin tưởng vào Đảng, Bác Hồ, được giác ngộ cách mạng, phát huy tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, cùng với Nhân dân cả nước đứng lên chống lại giặc ngoại xâm, giữ yên biên ải”. Với những đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ông Vương Chí Sình được được Nhà nước truy tặng Huân chương Đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa I, các ĐBQH của quê hương cách mạng Tuyên Quang trở thành cầu nối tin cậy, mang tiếng nói của đồng bào các dân tộc thiểu số đến với cơ quan quyền lực cao nhất.
Hành trình của họ là bản hùng ca về tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước. Họ đã đi từ ánh đuốc của đêm trước cách mạng đến ánh sáng của nghị trường dân chủ, để lại cho hậu thế bài học lớn về sự gắn bó máu thịt với Nhân dân, về tinh thần đoàn kết dân tộc. Dấu ấn ấy vững bền như dãy Tây Côn Lĩnh hùng vĩ, nhắc nhớ thế hệ các đại biểu dân cử hôm nay về giá trị của niềm tin, của đạo đức cách mạng, trí tuệ và trách nhiệm với Nhân dân.
Nguồn Tuyên Quang: http://baotuyenquang.com.vn/xa-hoi/202603/tron-loi-the-voi-dang-voi-dan-ed9637a/













