Trung đoàn Đặc công 429: Trận đánh vào căn cứ Bù Bông đêm 03 rạng 04 tháng 11 năm 1973 (Kỳ 1)
Căn cứ Bù Bông nằm trên cao điểm 900 án ngữ trên quốc lộ 14 cách Ngã Ba Tuy Đức 5km về hướng Nam Đông Nam. Trước đây là một căn cứ nhỏ cấp trung đội. Sau ngày 27 tháng 1 năm 1973 (ngày ký Hiệp định Pari) địch xây dựng thành Yếu khu quân sự. Gần đây địch có âm mưu lấn chiếm lên phía Bắc nên đã xây dựng thành căn cứ hành quân cấp Chiến đoàn do tên Đại tá tham mưu trưởng Quân khu 2 chỉ huy.
SƠ LƯỢC TRẬN ĐÁNH
Căn cứ Bù Bông nằm trên cao điểm 900 án ngữ trên quốc lộ 14 cách Ngã Ba Tuy Đức 5km về hướng Nam Đông Nam (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng). Trước đây là một căn cứ nhỏ cấp trung đội. Sau ngày 27 tháng 1 năm 1973 (ngày ký Hiệp định Pari) địch xây dựng thành Yếu khu quân sự. Gần đây địch có âm mưu lấn chiếm lên phía Bắc nên đã xây dựng thành căn cứ hành quân cấp Chiến đoàn do tên Đại tá tham mưu trưởng Quân khu 2 chỉ huy.
Để đập tan âm mưu lấn chiếm của địch, mở rộng và bảo vệ vùng giải phóng nối liền giữa vùng giải phóng với hậu phương của ta và lưu thông đường hành lang chiến lược Bắc Nam. Để phối hợp chung với chiến dịch, E429 được giao nhiệm trên.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Xuân Tình nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đặc công 429- Chỉ huy trận đánh
Nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lênh của Bộ chỉ huy chiến dịch E đã nhanh chóng triển khai chuẩn bị mọi mặt và thực hành nổ súng vào 3 giờ 30 ngày 4/11/73. Sau 1 ngày đêm chiến đấu liên tục Trung đoàn đã cùng với Dl (-), E205 bộ binh và các đơn vị tăng cường tiêu diệt hoàn toàn căn cứ Bù-Bông. Được Bộ chỉ huy Chiến dịch tặng thưởng Huân chương quân công giải phóng hạng 3. Qua trận đánh ta thấy nổi lên mấy đặc điểm sau:
- Là trận đánh then chốt vào mục tiêu then chốt có tính chất quyết chiến của chiến dịch.
- Là trận đánh hợp đồng binh chủng lớn nhất từ sau khi ký hiệp định đến nay.

Sơ đồ căn cứ Bù Bông - Ảnh : CCB Trần Công Sơn .
PHẦN THỨ NHẤT
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG
I. ĐỊA HÌNH
Mục tiêu nằm phía Tây lộ 14, tại ngã ba đường 14 và đường 343. Cách Ngã Ba Tuy- Đức 5km về hướng Nam Đông Nam. Xung quanh là các cao điểm 934 – 982 - 911 và các điểm cao hầu hết là đồi trọc (một số rừng nằm ở ven suối). Xen kẽ là nương rẫy của nhân dân. Tây và Tây Bắc là cao điểm 934 – 982 – 911 và một số điểm cao hầu hết là đồi trọc (một số rừng nằm ven suối). Tây và Tây Bắc là cao điểm 934, 911, 926 án ngữ bảo vệ Bù Bông.
Từ hướng Tây vào mục tiêu cách 800 – 1000 mét là 1 con suối lớn nước chảy mạnh, ngoài ra còn các khe suối nhỏ mùa mưa dễ có nước. Hướng Đông Bắc cũng có 1 con suối lớn chạy về phía Đông ấp chiến lược.
Đường sá: Đường 14 chạy qua phía Đông chốt, phía Bắc chạy lên Ngã Ba Tuy- Đức, phía Nam chạy về Kiến- Đức. Phía Đông là đường 343 chạy về đồn dân vệ. Ngoài ra địch còn làm 1 con đường chạy từ Bắc vòng quaTây xuống Nam. Có một cổng ra vào ở hướng Nam Tây Nam. Như vậy 4 xung quanh chốt đều có đường lộ chạy qua.
Tại mục tiêu: Địch xây dựng trên điểm cao ủi đất ra xung quanh. Bên ngoài nhìn vào như có tường, nhưng bên trong là mặt phẳng. Mục tiêu cấu trúc theo kiểu Bậc thang, lại xen kẽ nhau, nên địch phát huy được hỏa lực do không bị ảnh hưởng. Do địch ở trên cao nên khi mưa nước chảy xuống tạo thành nhiều rãnh xoáy, ta có thể lợi dựng ém quân tốt. Tóm lại về địa hình ta thấy có 1 số thuận lợi, khó khăn như sau:
a) Thuận lợi:
- Xung quanh có nhiều điểm cao tương đương, đồi trống ta dễ quan sát phát hiện địch từ xa.
- Địa hình lồi lõm nhiều vật che đỡ che khuất, do đó tạo điều kiện ta tiếp cận dễ dàng.
b) Khó khăn:
- Địch ở trên cao trống nên cũng dễ phát hiện ta từ xa.
- Đường rừng, núi dốc, nhiều suối sâu lại là mùa mưa nên đi lại gặp nhiều khó khăn.
- Nhiều đường sá, nương rẫy nên dễ để lại dấu vết trong khi tiếp cận dễ bị địch phát hiện.
II. VỀ ĐỊCH:
1. Địch tại mục tiêu:
Theo tin A: Trên cung cấp, qua khai thác từ tù binh và điều nghiên nắm được, lực lượng địch tại chỗ gồm:
+ BCH hành quân cấp Chiến đoàn do tên TMT Quân khu 2 chỉ huy.
+ BCH Yếu khu Bù-bông.
+ BCH tiền phương Tiểu khu Quảng Đức
+ Hậu cứ của D 259 bảo an. Ngoài ra còn 8 đại đội cụ thể:
- 2 C của D259
- 1 C của D258
- 1 C của D246
- 2 C của D247
- 1 C công binh.
- 1 C pháo gồm 4 khẩu (2 pháo 105 + 2 pháo 155 ly) + 4 khu truyền tin (Qua tài liệu ta nắm được mỗi C địch có từ 75 đến 80 tên).
Sắc lính: Lực lượng của D258 + D259 có người dân tộc là lực lượng của Tiểu khu nên thông thạo địa hình. Lực lượng của D247 + D246 là của Quân khu 2 mới điều từ Quân khu 5 lên, chủ yếu là người Kinh.
Hỏa lực: 2 pháo 155 ly.
2 pháo 105 ly
2 cối 81 ly
1 ĐKZ 106 ly
Một số cối 60 + M79 và các loại hỏa khí cá nhân. Trên chòi cu và một số hầm cố thủ ở trung tâm có bố trí súng 12,7 ly.
Hình thái của chốt: Hàng rào bên ngoài tạo theo địa hình tứ giác (theo hình cánh sao). Chiều Bắc Nam từ 300-350m, chiều Đông Tây từ 250 đến 300m. Mục tiêu khoảng 150- 170m chiều Bắc Nam, chiều Đông Tây từ 120-150m, bên trong cấu trúc theo hình tròn. Chòi cu nằm chính trung tâm chốt.
Cấu trúc công sự: Toàn bộ mục tiêu cấu trúc công sự gỗ đất. Phía trước nổi lên 1/3, phía trong là mặt bằng đắp bao cát dày 1,2- 1,5m.
- Hầm làm lớn có mái dài tới 40m, trung bình dài 10- 13m, rộng 3- 3,5m
- Bên trong đường tuần tra thứ 2 là hệ thống hầm ngầm hoàn chỉnh, rộng từ 6- 8m, độ dày từ 2,5- 3m. Cửa hầm mới tìm thấy 1 cửa ở chòi cu xuống. (đường ngầm này ta đánh sập đến đâu biết đến đó còn chưa tìm thấy hết).
- Toàn bộ mục tiêu bố trí thành 2 tuyến. Ngoài là tuyến lô cốt nhà ngủ thứ nhất, sau đó qua một khu vực trống có hào, rồi qua đường hầm. Vào tiếp là tuyến vỏ thứ 2, mục tiêu dày đặc hơn, trung bình 4- 5m l mục tiêu. Lực lượng chiến đấu tập trung ở 2 tuyến vỏ, còn bên trong hầu hết là cơ quan chỉ huy.
Chướng ngại vật: Tính từ ngoài vào:
- Rào 1 ngoài lộ là rào đơn.
- Rào 2 là rào lò xo cuộn kết hợp với rào mái nhà.
- Rào 3 là rào vướng chân rộng 5,5- 6,5m.
- Rào 4 là rào lò xo 3 cuộn.
- Rào 5 là mái nhà.
- Rào 6 mái nhà chạy dài chữ chi.
- Rào 7 là rào vướng chân.
- Rào 8 là lò xo 5-7 cuộn.
Mỗi lớp rào cách nhau 15- 20m, riêng ở các góc có thể cách nhau từ 40- 50m.
Bên trong: Ngoài lộ tuần tra thứ nhất có 1 rào lò xo 3 cuộn, tiếp là rào đơn lò xo 2 cuộn và rào đơn nữa. Do đồi bị ủi bằng, khoảng cách các rào thưa nên giữa 2 rào tạo thành 1 con đường có thể tuần tra cơ giới được. Bên trong còn có rào ngăn chắn từng khu vực.
- Ánh sáng: Bên trong có máy nổ chạy để cung cấp điện cho hệ thống hầm ngầm và các nhà làm việc. Bên ngoài không có điện, lính gác và tuần tra chủ yếu dùng đèn 3 pin để kiểm tra. Chập tối và gần sáng địch đốt lửa sưởi.
- Dọc theo đường tuần tra ở trung tâm cứ 15-20 phút địch dùng xe đi tuần tra 1 lần để kiểm tra. Quy luật hoạt động tuần tra canh gác của địch:
+ Ban ngày chủ yếu gác trên chòi cu và các lô cốt chính.
+ Ban đêm lúc chập tối địch gác trên các mục tiêu ở tuyến vỏ bên ngoài. Bên trong địch canh gác thành vòng tròn, càng về khuya thì mật độ canh gác càng giảm đi. Từ trước 3 đến 5 hôm ta đánh, địch dùng đèn pin soi để kiểm tra thành một vòng tròn trong trung tâm.
+ Ban đêm lực lượng thường trực chiến đấu ở các hầm nổi trên mặt đất, còn toàn bộ lực lượng, cơ quan và phương tiện chỉ huy đều ở dưới hầm. Qua khai thác tù binh ta nắm được địch có chủ trương khi nào có pháo kích thì xuống hầm, khi nào hết pháo thì lên phản kích.
2. Địch liên quan:
Ở phía bắc Tây Bắc và Đông Bắc từ chốt lên đến Ngã Ba Tuy Đức trong phạm vi 5km lực lượng địch gồm có:
- D246 + D247 bảo an của quân khu 2 hoạt động Đông Tây lộ 14, ở Tây Nam và Đông Nam Ngã Ba Tuy Đức.
- 2C của D259 + BCH nhẹ hoạt động trên cao điểm án ngữ và bảo vệ cho hướng Tây và Tây Bắc mục tiêu.
- 2C của D258 + Chi đoàn xe bọc thép lên phá chốt của ta ở Ngã Ba Tuy Đức ngày 27/10/73 bị đánh thiệt hại nặng. 1 C lui về Kiến -Đức, còn 1 C về ở tại Bù-Bông. Chi đoàn thiết giáp về cụm lại ở Đông Nam mục tiêu 1,5km.
- Địch mới điều D271 bảo an của Quân khu 2 lên khu vực hành quân, tập trung lên phía Bắc chốt của ta.
- Hướng Đông Bắc cách mục tiêu khoảng 1km là đồn dân vệ cấp trung đội có 1 ĐKZ 106 ly.
- Phía Đông Nam cách 1,5km là cụm pháo gồm 4 khẩu 105 và 4 xe M113+1 ĐKZ 106 ly. 2 mục tiêu này trực tiếp chi viện cho Bù-Bông khi bị tấn công (xe tăng này do bị đánh ở phía bắc Bù- Bông rồi chạy về co cụm lại ở đây).
ϖ Hoạt động của địch:
- Trong thời gian trước khi ta chuẩn bị địch có nắm được ý đồ chung của ta, và chờ ta tấn công như Căn cứ Lệ Minh (Plei Djereng- Pleiku) nên hết sức đề phòng đồng thời tập trung lực lượng để phá chốt giải tỏa cho Bù- Bông đồng thời có kế hoạch dự phòng chung.
- Cho lực lượng chốt giữ các điểm cao quan sát, khống chế ta từ xa.
- Phát hiện dấu vết ngăn chặn, gài mìn trên trục đường mòn.
- Tập trung lực lượng đánh giải tỏa các vị trí chốt chặn.
- Có kế hoạch dự phòng và đối phó với ta. Cụ thể từ Bù-Bông lên Tuy- Đức khoảng 5 km địch chốt thêm 6 điểm, pháo binh có kế hoạch tác xạ vào các mục tiêu. Khi yêu cầu cần chi viện tới mức tối đa.
ϖ Kết luận về địch:
+ Mạnh: Địch chiếm được các điểm cao trống trải, có lợi thế về quan sát và phát dương hỏa lực.
- Lực lượng bung ra hoạt động bên ngoài nhiều, xa, thành nhiều lớp để thăm dò, giải tỏa và ngăn chặn ta từ xa bảo vệ căn cứ.
- Có mạng lưới gián điệp, thám báo trà trộn trong nhân dân; nhất là chúng khống chế kìm kẹp được dân do đó nếu ta không chú ý để bị dân phát hiện sẽ báo cho địch biết.
- Căn cứ nhỏ, lực lượng đang hình thành 2 tuyến rõ rệt, hệ thống công sự, chướng ngại vật hoàn chỉnh.
+ Yếu: Chưa bị đánh bằng binh chủng lần nào do đó địch kinh nghiệm đối phó với cách đánh của binh chủng có mức độ.
- Lực lượng bung ra nhiều nên dễ ỷ lại dựa dẫm vào nhau. Nếu ta giữ được bí mật luồn lách qua tuyến ngoài vào được bên trong địch có nhiều sơ hở (qua nghiên cứu từ rào trở ra 500m không có dấu vết địch hoạt động mà địch hoạt động bung ra xa hơn nên có sơ hở).
- Địch ở trên cao ta dễ phát hiện, ban đêm địch quan sát bị hạn chế.
- Chập tối thì tuần tra canh gác chặt chẽ nhưng càng về khuya mật độ canh gác càng giảm, có chỗ bỏ gác.
- Lực lượng chiến đầu tập trung ở 2 tuyến ngoài, bên trong hầu hết là cơ quan chỉ huy, nhiều bộ phận dễ tạo nên nhiều kẽ hở.
- Chướng ngại vật rào nhiều nhưng thưa, mìn chống bộ binh chưa có. Tóm lại mặc dầu địch có thủ đoạn đối phó với ta nhưng so với các mục tiêu ở chiến trường cũ của ta thì địch có nhiều sơ hở chủ quan ta có thể lợi dụng được.
III. VỀ DÂN
Hướng Đông Bắc cách mục tiêu 800- 1000m là ấp chiến lược Bù- Bông, hướng Đông Nam 1.300- 1.500m là ấp Đức Thục, hai ấp này hầu hết là dân tộc từ trước đến nay ta chưa hoạt động khu vực này nên ít chịu ảnh hưởng của cách mạng, hầu hết họ chưa hiểu biết gì về cách mạng, bị địch lừa mỵ, mua chuộc, khống chế lâu ngày nên sợ ta. Cho ta là người rừng độc ác, do đó có thành kiến với ta. Nếu phát hiện lực lượng ta đều báo cho địch biết.
Sinh sống chủ yếu là làm rẫy do đó thường đi lẻ trong rừng. Ta khó phát hiện.

Thiếu tướng Lê Công Đoàn ( nhân chứng ) & CCB Nguyễn Minh người trực tiếp tham gia trận đánh Bù Bông ( bìa phải ) - Ảnh ; CCB Nguyễn Minh .
IV. VỀ BẠN
Ngoài lực lượng của ta lần này còn được tăng cường các đơn vị bộ binh, pháo binh, phòng không. Nhìn chung các đơn vị bạn đã hoạt động trong chiến dịch Nguyễn- Huệ đã lập được được thành tích trong chiến đấu. Đã tích lũy được một số kinh nghiệm ở chiến trường nhưng nhìn chung đánh hiệp đồng với đặc công mới là lần đầu tiên nên có nhiều bỡ ngỡ, lúng túng.
Nhưng qua huấn luyện bổ xung ở vị trí tạm dừng nhìn chung hai bên đặc công và bộ binh đã tin tưởng vào nhau, khả năng hoàn thành nhiệm vụ.

Hai cựu chiến binh Đoàn Đặc công 429 , Nguyễn Minh ( trái ) & Trần Công Sơn - Ảnh : Nguyễn Minh
V. VỀ TÌNH HÌNH TA
- Là đơn vị có truyền thống nhất là năm 1972 có nhiều trận thắng lớn, nhưng chưa có trận nào đánh diệt gọn xuất sắc.
- Từ sau khi ký hiệp định Paris đơn vị được củng cố huấn luyện, quân số trang bị được bổ sung tương đối đầy đủ, trình độ chiến thuật, tổ chức chỉ huy được nâng lên.
- Hầu hết các đơn vị đều đã qua chiến đấu ở chiến trường. Đã tích lũy được một số kinh nghiệm trong chiến đấu, Đơn vị đang có khí thế thi đua sôi nổi lập thành tích trong đợt đầu, trận đầu nhưng cũng còn nhiều khó khăn.
+ Mùa mưa, địa hình mới lạ, khí hậu rét, đường sá dốc, muỗi vắt nhiều, hành quân dài ngày, mang vác nặng sức khỏe bộ đội có giảm sút.
+ Hậu phương bảo đảm mọi mặt cho chiến đầu nhất là lương thực, thực phẩm, vũ khí đạn dược có nhiều khó khăn.
(Còn nữa)
