Trung Quốc trở thành biến số quyết định đà tăng của giá dầu
Trong nhiều thập kỷ, Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) chi phối thị trường bằng cách điều chỉnh sản lượng. Tuy nhiên, Trung Quốc, nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới, đang ngày càng tác động mạnh đến giá dầu thông qua việc tăng hoặc giảm lượng mua vào...
Trong nhiều thập kỷ, Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) chi phối thị trường bằng cách điều chỉnh sản lượng. Tuy nhiên, Trung Quốc, nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới, đang ngày càng tác động mạnh đến giá dầu thông qua việc tăng hoặc giảm lượng mua vào...

Một tàu chở dầu cập cảng tại thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang - Ảnh: China Daily
Hoạt động vận chuyển dầu qua eo biển Hormuz đã chậm lại đáng kể do căng thẳng kéo dài giữa Mỹ và Iran. Tuy nhiên, giá nhiên liệu tại các cây xăng tăng hay giảm không chỉ phụ thuộc vào lượng dầu được đưa ra khỏi Vịnh Ba Tư, mà còn chịu ảnh hưởng lớn từ nhu cầu của Trung Quốc.
Trong mùa xuân năm nay, Trung Quốc đã cắt giảm mạnh lượng dầu nhập khẩu. Nhu cầu suy yếu từ thị trường này là một trong những nguyên nhân giúp giá dầu không tăng cao hơn trong giai đoạn đầu của chiến tranh Iran.
Câu hỏi lớn đối với thị trường hiện nay là khi nào Trung Quốc sẽ tăng mua dầu trở lại. Nước này càng trì hoãn, giá dầu càng có khả năng giảm. Ngược lại, nếu nhu cầu của Trung Quốc phục hồi, giá dầu có thể tăng trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi.
BIẾN SỐ QUAN TRỌNG VÀ BẤT NGỜ
“Diễn biến nhu cầu của Trung Quốc thực sự là mảnh ghép quan trọng nhất”, bà Karen Young, nhà nghiên cứu cấp cao tại Trung tâm Chính sách Năng lượng Toàn cầu thuộc Đại học Columbia, nhận định với tờ báo New York Times.
Một yếu tố quan trọng khác là cuộc chiến Nga - Ukraine. Giá dầu diesel bán buôn tăng vọt trong tuần trước sau khi Nga, một trong những nước xuất khẩu nhiên liệu lớn nhất thế giới, cấm xuất khẩu dầu diesel ra nước ngoài để bảo đảm nguồn cung trong nước.
Các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Ukraine đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều nhà máy lọc dầu Nga, làm suy giảm khả năng chế biến dầu thô thành nhiên liệu vận tải của nước này.
Biến động giá nhiên liệu bán buôn thường báo hiệu trước xu hướng giá bán lẻ tại các cây xăng. Theo Hiệp hội Ô tô Mỹ (AAA), giá dầu diesel trung bình tại Mỹ vào thứ Hai (13/7) là 4,88 USD/gallon, tăng 2,5% so với một tuần trước.
Một số dấu hiệu cho thấy nhập khẩu dầu của Trung Quốc có thể sớm phục hồi. Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) gần đây cho biết các hoạt động thu mua và một số chuyến dầu đơn lẻ bằng tàu chở dầu có thể phản ánh “sự quan tâm trở lại của Trung Quốc đối với việc mua dầu”.

Tuy nhiên, phần lớn thị trường vẫn chưa lý giải được vì sao lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc trong tháng 5 lại giảm gần 1/3 so với cùng kỳ năm trước, theo số liệu hải quan do Bắc Kinh công bố.
Theo New York Times, Trung Quốc được cho là sở hữu kho dự trữ dầu lớn nhất thế giới. Dù vậy, nước này dường như không rút nhiều dầu từ các kho chứa trên mặt đất mà giới phân tích có thể theo dõi bằng hình ảnh vệ tinh.
Trong thời gian chiến tranh, các nhà máy lọc dầu Trung Quốc cũng xử lý ít dầu hơn bình thường. Bắc Kinh còn cấm xuất khẩu các sản phẩm dầu mỏ ngay từ giai đoạn đầu của cuộc xung đột. Tuy nhiên, những yếu tố này vẫn chưa đủ để giải thích mức giảm nhập khẩu lớn như vậy.
Trung Quốc còn nhiều công cụ khác để hạn chế nhu cầu dầu. Nước này sở hữu nguồn than dồi dào, có thể sử dụng thay cho các sản phẩm dầu mỏ trong ngành hóa chất.
Bên cạnh đó, Trung Quốc sản xuất một phần lớn điện năng từ các nguồn năng lượng tái tạo và là thị trường xe điện lớn nhất thế giới. Mạng lưới đường sắt cao tốc lớn nhất toàn cầu cũng góp phần làm giảm nhu cầu sử dụng dầu.
Theo IEA, năm nay có thể là lần đầu tiên mức tiêu thụ dầu của Trung Quốc giảm đáng kể kể từ các cuộc khủng hoảng dầu mỏ trong thập niên 1970 và đầu thập niên 1980.
Bất kể nhu cầu phục hồi nhanh hay chậm, lượng dầu dự trữ khổng lồ vẫn mang lại cho Trung Quốc lớp đệm lớn. Nhiều chuyên gia cho rằng nước này có thể tiếp tục trì hoãn việc tăng nhập khẩu trong một thời gian nữa.
“Trung Quốc hoàn toàn không chịu bất kỳ sức ép tức thời nào”, ông Ben Cahill, thành viên cấp cao tại Hội đồng Đại Tây Dương, một tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại Washington, nhận định.
Theo giới phân tích, khả năng tác động đến thị trường bằng cách tăng hoặc giảm lượng dầu mua vào của Trung Quốc là một trong những diễn biến bất ngờ nhất kể từ khi chiến tranh Iran nổ ra.
Sức ảnh hưởng này càng đáng chú ý khi Trung Quốc phải nhập khẩu phần lớn lượng dầu tiêu thụ. Trong nhiều thập kỷ, các nước sản xuất dầu thường nắm quyền chi phối giá cả.
Các thành viên OPEC nhiều lần tận dụng thị phần lớn để đẩy giá dầu tăng vọt, như trong thập niên 1970, hoặc để giá lao dốc, như năm 2014.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của OPEC đã suy giảm trong những năm gần đây. Ban đầu, sự trỗi dậy nhanh chóng của ngành dầu mỏ Mỹ làm suy yếu khả năng chi phối thị trường của tổ chức này. Đến mùa xuân năm nay, OPEC tiếp tục mất đi một thành viên lớn là Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE).
“Trên thực tế, Trung Quốc đạng tận dụng hiệu quả sức mạnh thị trường tốt hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, kể cả Saudi Arabia và Mỹ”, ông Gregory Brew, chuyên gia phân tích tại công ty nghiên cứu Eurasia Group, nhận định.
XUNG ĐỘT TẠI VỊNH BA TƯ VẪN LÀ RỦI RO LỚN
Dù vậy, mức độ căng thẳng của cuộc xung đột tại Vịnh Ba Tư và khả năng giao tranh khiến các chủ tàu tránh xa khu vực này vẫn là những yếu tố đặc biệt quan trọng đối với thị trường năng lượng.
Đầu tuần này, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố tái áp đặt lệnh phong tỏa hải quân đối với các cảng của Iran. Động thái này nhằm ngăn phần lớn dầu của Iran được đưa ra thị trường toàn cầu. Ông Trump cũng khẳng định Mỹ không có ý định nhường quyền kiểm soát eo biển Hormuz cho Iran.
“Từ thời điểm này, Mỹ sẽ được biết đến với vai trò ‘lực lượng bảo vệ eo biển Hormuz’”, ông Trump viết trên mạng xã hội. Ông cho biết Mỹ sẽ yêu cầu các tàu trả chi phí ở mức tương đương 20% giá trị “tất cả hàng hóa được vận chuyển” qua tuyến hàng hải này.
Kể từ đầu tháng 5, quân đội Mỹ đã hỗ trợ các tàu di chuyển qua eo biển Hormuz theo những tuyến gần Oman. Theo Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM), tính đến cuối tháng 6, hàng trăm triệu thùng dầu thô đã được vận chuyển trong khuôn khổ hoạt động này.
Tuy nhiên, tới ngày thứ Tư, ông Trump đã rút lại kế hoạch thu phí 20%. Theo ông, các nước Vùng Vịnh sẽ thay vào đó triển khai thêm các cam kết thương mại và tăng đầu tư vào Mỹ.
Giới chuyên gia cảnh báo việc Washington liên tục thay đổi lập trường có thể khiến các chủ tàu, công ty bảo hiểm và doanh nghiệp năng lượng khó đánh giá chi phí cũng như mức độ an toàn khi đi qua eo biển Hormuz. Ngay cả khi đề xuất thu phí không được thực hiện, nguy cơ Mỹ hoặc các bên liên quan áp đặt những điều kiện mới đối với hoạt động hàng hải vẫn có thể làm tăng phí bảo hiểm, chi phí vận chuyển và giá năng lượng.
Tuy nhiên, thị trường dầu mỏ hiện chưa rơi vào tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng. Dầu vẫn được vận chuyển ra khỏi Vịnh Ba Tư, trong khi sản lượng tại một số khu vực khác gia tăng và nhu cầu từ các thị trường lớn như Trung Quốc suy yếu. Nhìn chung, nguồn cung toàn cầu vẫn đủ đáp ứng nhu cầu.
Dù vậy, giá dầu vẫn tăng do thị trường phải tính thêm phần bù rủi ro trước khả năng dòng chảy năng lượng qua eo biển Hormuz bị gián đoạn kéo dài. Trong phiên giao dịch ngày 14/7, giá hợp đồng tương lai dầu Brent giao tại London đóng cửa ở mức 84,73 USD/thùng, cao hơn khoảng 16,9% so với phiên giao dịch cuối cùng trước khi chiến tranh Mỹ - Iran nổ ra. Giá hợp đồng tương lai dầu WTI giao tại New York đạt 79,34 USD/thùng, cao hơn khoảng 18,4% so với trước chiến tranh.
Trên thực tế, ô tô con và xe tải không sử dụng trực tiếp dầu thô mà chạy bằng xăng hoặc dầu diesel, những sản phẩm phải qua quá trình lọc hóa dầu. Trong bối cảnh nhiều cơ sở năng lượng tại Vùng Vịnh và Nga bị hư hại, công suất hoạt động của các nhà máy lọc dầu đã giảm đáng kể so với bình thường.
Vì vậy, dù nguồn cung dầu thô toàn cầu nhìn chung vẫn đủ, nguồn cung nhiên liệu thành phẩm lại trở nên eo hẹp hơn, góp phần khiến giá xăng và dầu diesel duy trì ở mức cao so với trước khi chiến tranh nổ ra.












