Trước Nguyễn Du, Nguyễn Trãi là người khai mở thơ ca chữ Nôm
Qua "Quốc âm thi tập", Nguyễn Trãi đưa lời ăn tiếng nói và tục ngữ của nhân dân vào thơ. GS Hoàng Tuệ xem đây là một đóng góp lớn đối với tiếng Việt văn học.

Trong Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã lưu ý sử dụng nhiều từ và ngữ pháp đúng tiếng Việt thay vì những từ, ngữ pháp gốc Hán. Ảnh: Tư liệu (Có sử dụng AI để tăng chất lượng hình ảnh).
Trong Quốc âm thi tập, thay vì sử dụng nhiều từ và ngữ pháp Hán, Nguyễn Trãi sử dụng nhiều cách nói gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Việt như “Nếu có ăn thì có lo”, “Chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho”, “Đói khó thì làm việc ngửa tay”, “Ta nếu ở đâu vui thú ấy”...
Những câu thơ ấy được GS Hoàng Tuệ khảo sát trong chuyên luận “Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt”, in trong sách Cuộc sống ở trong ngôn ngữ. Từ cách dùng từ, đặt câu đến việc đưa tục ngữ vào thơ, ông tập trung làm rõ cách Nguyễn Trãi sử dụng tiếng Việt trong Quốc âm thi tập.
Theo GS Hoàng Tuệ, nếu đại thi hào Nguyễn Du ở thế kỷ XIX tạo nên “niềm tự hào” thì Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV là "người mở đầu gian khổ và xuất sắc sự nghiệp lớn lao của tiếng Việt văn học".
Trích dẫn ca dao, tục ngữ như trích thánh hiền
GS Hoàng Tuệ nhấn mạnh ngôn ngữ là một tài sản lâu đời và quý giá của mỗi dân tộc. Sự phát triển của ngôn ngữ văn học chịu tác động của những điều kiện xã hội và lịch sử cụ thể.
Khi khảo sát Nguyễn Trãi, ông đặt Quốc âm thi tập trong hoàn cảnh mà những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển văn hóa, học thuật bằng tiếng nói của dân tộc chưa hình thành đầy đủ. Trong hoàn cảnh đó, Nguyễn Trãi vẫn sáng tác thơ bằng tiếng Việt.
GS Hoàng Tuệ gọi Nguyễn Trãi là “nhà thơ chiến sĩ, chiến sĩ nhà thơ”, đồng thời xem Quốc âm thi tập là nơi thể hiện tư tưởng và hoạt động của Nguyễn Trãi. Khi nghiên cứu ngôn ngữ của tập thơ, ông chú ý trước hết đến việc Nguyễn Trãi coi trọng “tiếng Nôm”. Ở đây, GS Tuệ phân biệt rõ "chữ Nôm" và "tiếng Nôm". Trong đó, chữ Nôm là phương tiện ghi lại tiếng nói trong khi tiếng Nôm bao gồm ngữ pháp, phát âm, từ vựng... Theo GS Tuệ, tiếng Nôm là cách gọi khác của tiếng Việt văn học thời Trung đại Việt Nam.
Lời thơ Nôm thời Nguyễn Trãi mang cú pháp, hư từ và ngữ điệu tự nhiên của lời nói hàng ngày. Đến các giai đoạn sau (với Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm khúc, Truyện Kiều...), tiếng Việt văn học mới phát triển thi pháp chặt chẽ, khuôn phép nghiêm ngặt và đạt tới mức độ chuẩn mực hóa cao. Do đó, người thời nay đọc Quốc âm thi tập vẫn cảm thấy tự nhiên, gần gũi.
Trong Quốc âm thi tập, theo GS Hoàng Tuệ, "tiếng Nôm" thể hiện ở nhiều phương diện. Đó là vốn từ, trong đó có những từ đã được Việt hóa lâu đời; là cách sử dụng những từ có chức năng ngữ pháp; là cách tổ chức câu và cách tạo nhịp điệu gần với tiếng nói tự nhiên.
Tác giả/Tác phẩm

Cuộc sống ở trong ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Tuệ · Xuất bản: 6/5/2025 · NXB Trẻ
Cuộc sống ở trong ngôn ngữ là tập hợp những nghiên cứu, tiểu luận của GS Hoàng Tuệ về tiếng Việt, ngôn ngữ học và ngôn ngữ văn chương. Cuốn sách cho thấy mối quan tâm rộng của ông với tiếng Việt ở nhiều phương diện, từ bản sắc, những phẩm chất của ngôn ngữ, giáo dục ngôn ngữ đến cách tiếng Việt được sử dụng và sáng tạo trong văn chương. Trong đó, các bài viết về Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Tản Đà, Tú Xương hay Truyện Kiều cho thấy cách ông tiếp cận tác phẩm văn học từ chính ngôn ngữ.
Ông dẫn nhiều câu thơ của Nguyễn Trãi để làm rõ đặc điểm này: “Nếu có ăn thì có lo / Chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho”, “Đói khó thì làm việc ngửa tay”, “Ta nếu ở đâu vui thú ấy”, “Cuộc cày là thú những bon chen”, “Của bất nhân, ăn, ấy chớ”.
Theo GS Hoàng Tuệ, những cách diễn đạt như vậy tạo nên cảm giác tự nhiên của lời nói. Ông nhận xét ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Trãi “gần gũi với tiếng nói thông thường của người Việt” và nhiều đặc điểm của nó “đã thay đổi không quá lớn” trong khoảng 600 năm.
Tục ngữ cũng được Nguyễn Trãi sử dụng với vị trí nổi bật trong thơ, ông có một thái độ trân trọng đặc biệt đối với tục ngữ; trích tục ngữ mà như người ta trích thánh hiền. GS Hoàng Tuệ dẫn những câu: “Lân cận nhà giàu no bữa cốm / Bạn bè kẻ trộm phải đòn đau”, “Ở bầu thì dáng ắt nên tròn”, “Ắt đã tròn bằng nước ở bầu”, “Xưa đã có câu truyền bảo / Làm biếng hay ăn lở non”.
Khi đưa những lời nói và chất liệu từ đời sống nhân dân vào thơ, Nguyễn Trãi không chỉ sử dụng một nguồn ngôn ngữ có sẵn. Theo GS Hoàng Tuệ, việc nâng tiếng nói và văn học dân gian lên trong sáng tác của Nguyễn Trãi có “ý nghĩa thời đại” và có tác dụng đối với một phong trào trí thức rộng lớn hơn.
Từ đó, nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học kết luận về tầm vóc của Nguyễn Trãi: “Nguyễn Trãi là người mở đầu gian khổ và xuất sắc sự nghiệp lớn lao của tiếng Việt văn học”.
Như thế nào là sự trong sáng của tiếng Việt?
Trong Cuộc sống ở trong ngôn ngữ, GS Hoàng Tuệ nhiều lần trở lại với câu chuyện bản sắc và những phẩm chất của tiếng Việt. Ở chuyên luận “Tìm hiểu bản sắc và những đức tính của ngôn ngữ”, ông cho rằng quan niệm về sự trong sáng của ngôn ngữ có một quá trình phát triển, trong đó “trong sáng” có thể được hiểu khái quát là bản sắc của ngôn ngữ.
Theo GS Hoàng Tuệ, bản sắc của một ngôn ngữ gắn với lịch sử và văn hóa của dân tộc sử dụng ngôn ngữ ấy. Ông viết: “Bản sắc của một ngôn ngữ biểu hiện không những ý chí mà cả trí tuệ, với cái lý riêng của trí tuệ đó, trong cuộc sống đấu tranh, sáng tạo của một dân tộc để tồn tại, phát triển và tự bảo vệ”.
Trong chuyên luận “Nói chuyện ngôn ngữ học”, GS Tuệ bàn về sự trong sáng của tiếng Việt từ nhiều phương diện. Ông nhắc đến ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp và ngữ nghĩa như những yếu tố cùng tạo nên giá trị của tiếng Việt, từ đó hình thành bản sắc và sức sống của ngôn ngữ.

GS Hoàng Tuệ nguyên là VIện trưởng Viện Ngôn ngữ học, người đặt nền móng cho ngành Ngôn ngữ học Việt Nam. Ảnh: Tư liệu/NXB Trẻ.
Từ đó, GS Hoàng Tuệ nhắc đến những phong cách ngôn ngữ văn chương và cách người nghệ sĩ lựa chọn từ ngữ. Ông cho rằng “cái tài của nghệ sĩ trong việc dùng từ chính là ở sự biến hóa này”, khi nghĩa của từ được vận dụng trong những hoàn cảnh cụ thể để tạo nên những sắc thái khác nhau. Với ông, việc lựa chọn một từ trong văn thơ còn liên quan đến những cảm xúc và suy nghĩ được truyền từ người đi trước đến người đọc hôm nay và mai sau.
Ông nhận định: “Về chuẩn mực, cái khó là ở chỗ: Trong những phạm vi nhất định, chuẩn mực có thể được xác định rõ nhưng có những phạm vi thì chuẩn mực trong quan hệ với phong cách lại có tính chất linh hoạt”.
Việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt vì vậy gắn với cả ý thức về bản sắc, sức sống và cách sử dụng tiếng Việt trong từng hoàn cảnh.
