Truy xuất nguồn gốc bắt đầu từ vùng nguyên liệu
Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, kiểm soát chặt quy trình sản xuất đang được nhiều chủ thể OCOP tại tỉnh chú trọng. Từ lựa chọn giống, đất, nguồn nước đến chăm sóc, thu hoạch và chế biến, từng khâu được tổ chức bài bản, tạo cơ sở để quản lý và minh bạch thông tin sản phẩm. Đây là nền tảng quan trọng để thực hiện truy xuất nguồn gốc, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh cho nông sản của địa phương.
Sau nhiều năm triển khai Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP), hiện nay Lào Cai có 556 sản phẩm OCOP từ 3 đến 5 sao. Trên mỗi sản phẩm là một mã QR có thể giúp người tiêu dùng tiếp cận thông tin về sản phẩm và cũng là minh chứng tự bảo đảm chất lượng của sản phẩm.
Đằng sau những thông tin được số hóa là quá trình sản xuất được kiểm soát, từ nguồn giống, điều kiện canh tác đến thu hoạch, sơ chế và chế biến. Với các sản phẩm OCOP, truy xuất nguồn gốc được xây dựng ngay từ vùng nguyên liệu.
Theo Tiến sĩ Trần Trung Kiên - Phó Trưởng Khoa Công nghệ nông nghiệp, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, một trong những yêu cầu quan trọng đối với sản phẩm OCOP là duy trì chất lượng ổn định giữa các lô sản xuất. Nếu nguyên liệu được thu mua từ nhiều nguồn không kiểm soát, sản phẩm có thể gặp các vấn đề về chất lượng.
Ngược lại, vùng nguyên liệu được quy hoạch và quản lý theo quy trình thống nhất tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã chủ động nguồn cung, kiểm soát nguyên liệu đầu vào và xây dựng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.

Từ diện tích trồng nhỏ lẻ ban đầu, đến nay Hợp tác xã Dịch vụ sản xuất nông nghiệp và dược liệu Yên Bái (xã Đông Cuông) đã phát triển vùng chuyên canh cà gai leo khoảng 5 ha. Cùng với quy hoạch vùng trồng liền vùng, liền khoảnh, hợp tác xã còn chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn người dân kiểm soát quy trình canh tác.
Chị Vũ Thị Thúy, thôn Trung Tâm cho biết: Cà gai leo trồng một lần, thu hoạch nhiều năm. Cây được chăm sóc thủ công, làm cỏ bằng tay, bảo đảm đủ nước và chủ yếu sử dụng phân hữu cơ, không dùng hóa chất diệt cỏ.
Việc quy hoạch vùng trồng tập trung giúp hợp tác xã thuận lợi hơn trong quản lý, hướng dẫn kỹ thuật và kiểm soát chất lượng nguyên liệu. Mỗi năm hợp tác xã Dịch vụ sản xuất nông nghiệp và dược liệu Yên Bái đưa vào chế biến khoảng 200 tấn cà gai leo tươi, phát triển 2 sản phẩm OCOP 3 sao là gel cà gai leo và cao đặc cà gai leo.
Chúng tôi hướng đến kiểm soát chất lượng từ vùng trồng. Thời gian tới, chúng tôi tiếp tục chuẩn hóa quy trình sản xuất, tăng cường quản lý vùng nguyên liệu và từng bước hoàn thiện việc ghi chép thông tin các khâu sản xuất, tạo cơ sở minh bạch nguồn gốc sản phẩm khi đưa ra thị trường.
Anh Phạm Văn Chiến - Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ sản xuất Nông nghiệp và dược liệu Yên Bái
Tại Hợp tác xã Nông - lâm nghiệp Vạn An (xã Khánh Yên), xác định xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn là yếu tố "then chốt" để nâng cao chất lượng sản phẩm. Với định hướng phát triển các dòng trà thảo mộc phục vụ chăm sóc sức khỏe, hợp tác xã chú trọng lựa chọn giống và kiểm soát chặt chẽ quy trình canh tác.

Hoa cúc và hoa hồng là hai nguyên liệu chủ lực, đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc tỉ mỉ, nhất là trong phòng trừ sâu bệnh. Vì vậy, hợp tác xã ưu tiên các phương pháp canh tác an toàn, nhằm bảo đảm chất lượng nguyên liệu.
Chị Ngân Thị Trang - Giám đốc Hợp tác xã Nông - lâm nghiệp Vạn An cho biết: Hợp tác xã chọn vùng trồng có đất, nguồn nước sạch, cách ly khu vực sản xuất nông sản để hạn chế sâu bệnh và hóa chất lây nhiễm. Trong canh tác, hợp tác xã ưu tiên phân chuồng, phân vi sinh, hạn chế phân hóa học và không sử dụng chế phẩm hóa học trên cây hoa.
Hiện nay, các sản phẩm chủ lực của hợp tác xã gồm trà viên, trà túi lọc và các dòng sản phẩm từ thảo mộc như tinh dầu, trà đẹp da... Trong đó, nhiều sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 3 sao như: trà viên hoa cúc mật ong, trà viên quế đường nâu, trà viên gừng đường nâu... mang về doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm.
Tại vùng hồ Thác Bà, khai thác lợi thế từ nguồn nước tự nhiên sạch, Hộ kinh doanh thực phẩm tổng hợp Tâm Đức (xã Yên Bình) đã liên kết với các hộ dân nuôi cá để có nguyên liệu chất lượng cao. Chị Vũ Thị Thu Hương - chủ cơ sở cho biết: Chúng tôi hợp đồng với người nuôi bảo đảm chất lượng cá về thời gian nuôi, trọng lượng cá và thống nhất yêu cầu trong quá trình cung ứng.
Là một trong những hộ liên kết nguyên liệu với Hộ kinh doanh thực phẩm tổng hợp Tâm Đức, gia đình bà Nguyễn Thị Hà, thôn 13, xã Yên Bình có 85 lồng nuôi cá, được chú trọng duy trì mật độ nuôi phù hợp, phòng bệnh theo mùa và sử dụng các nguyên liệu tự nhiên như tỏi, nghệ, sả, rỉ mật kết hợp men vi sinh.

Bà Hà cho biết: "Định kỳ 3 lần/tuần, chúng tôi sẽ cho cá ăn chế phẩm phòng bệnh từ nguyên liệu tự nhiên. Đặc biệt đối với vùng hồ có nhiều loại lá cây, như lá xoan, lá dầm được xem như “kháng sinh” tự nhiên, chúng tôi cũng sử dụng để phòng bệnh cho cá và giữ vệ sinh nguồn nước sạch".
Chuẩn hóa vùng nguyên liệu đang được các chủ thể OCOP quan tâm, từng bước chuyển từ sản xuất dựa trên kinh nghiệm sang quản lý theo quy trình.
Tiến sĩ Trần Trung Kiên - Phó Trưởng Khoa Công nghệ nông nghiệp, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên cho biết: Các chủ thể OCOP cần kiểm soát 3 nguyên tắc chính: vùng nguyên liệu rõ ràng, đến từ đâu; lô nguyên liệu có hồ sơ đầy đủ (quá trình sản xuất, thu hoạch, sơ chế và kết quả kiểm tra chất lượng); sản phẩm có thể truy ngược toàn bộ chuỗi (từ sản phẩm cuối cùng xác định được các vùng nguyên liệu đã sử dụng, kể cả khi nguyên liệu được phối trộn từ nhiều hộ). Đây chính là cơ sở để thông tin trên mỗi sản phẩm phản ánh đúng hành trình hình thành sản phẩm, tạo niềm tin cho người tiêu dùng.

Trong bối cảnh tiêu chuẩn đánh giá sản phẩm OCOP ngày càng được nâng cao, yêu cầu của thị trường ngày càng khắt khe, kiểm soát chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu là yêu cầu tất yếu. Khi mỗi lô nguyên liệu được quản lý bằng quy trình thống nhất, mỗi công đoạn được ghi chép và minh bạch thông tin, truy xuất nguồn gốc mới thực sự phát huy giá trị.
Nguồn Lào Cai: https://baolaocai.vn/truy-xuat-nguon-goc-bat-dau-tu-vung-nguyen-lieu-post912843.html

