TS Bùi Văn Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Hà Nội học và Đào tạo Quốc tế, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội: Hà Nội có tiềm năng của một 'kinh đô điện ảnh lịch sử'

Làn sóng doanh nghiệp đầu tư vào phim lịch sử gần đây không chỉ mở ra cơ hội hồi sinh một thể loại vốn được xem là 'vùng trũng' của điện ảnh Việt, mà còn đặt nền móng cho việc xây dựng sức mạnh mềm quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu. Từ tiềm năng chất liệu dồi dào của lịch sử dân tộc, đặc biệt là không gian văn hóa nghìn năm của Hà Nội, vấn đề đặt ra không còn là 'có gì để kể', mà là 'kể như thế nào' để chạm tới công chúng quốc tế và định vị hình ảnh Việt Nam trên bản đồ văn hóa thế giới. Về vấn đề này, phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội có cuộc trao đổi với TS Bùi Văn Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Hà Nội học và Đào tạo Quốc tế, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội.

Với tiềm năng sẵn có, Hà Nội không chỉ sở hữu nguồn chất liệu lịch sử phong phú mà còn có điều kiện để trở thành “kinh đô điện ảnh lịch sử” của Việt Nam.

Với tiềm năng sẵn có, Hà Nội không chỉ sở hữu nguồn chất liệu lịch sử phong phú mà còn có điều kiện để trở thành “kinh đô điện ảnh lịch sử” của Việt Nam.

- Thưa TS Bùi Văn Tuấn, ông đánh giá như thế nào về xu hướng các doanh nghiệp đầu tư vào phim lịch sử thời gian gần đây?

TS Bùi Văn Tuấn.

TS Bùi Văn Tuấn.

- Trong một thời gian dài, phim lịch sử thường được xem là “vùng trũng” của điện ảnh Việt Nam. Đây là thể loại đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn, thời gian chuẩn bị kéo dài, yêu cầu cao về nghiên cứu lịch sử, phục dựng không gian văn hóa, trang phục, đạo cụ, kỹ xảo và đội ngũ chuyên gia tư vấn. Vì vậy, nhiều dự án dù có ý nghĩa về mặt văn hóa và giáo dục nhưng khó triển khai do hạn chế về nguồn lực tài chính. Việc các tập đoàn, doanh nghiệp lớn bắt đầu đầu tư vào lĩnh vực này cho thấy một sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức: Văn hóa và lịch sử không chỉ là giá trị tinh thần mà còn là nguồn lực phát triển.

Nhìn ra thế giới, có thể thấy nhiều quốc gia đã thành công khi biến điện ảnh lịch sử thành một ngành công nghiệp mang lại giá trị kinh tế và sức ảnh hưởng quốc tế. Hàn Quốc là một ví dụ điển hình. Những bộ phim như “Dae Jang Geum”, “The Admiral: Roaring Currents” hay “Kingdom” không chỉ đạt doanh thu cao mà còn góp phần quảng bá lịch sử, văn hóa, ẩm thực và du lịch Hàn Quốc ra toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, việc doanh nghiệp Việt Nam đầu tư cho các dự án phim về các nhân vật lịch sử dự kiến ra mắt trong thời gian tới có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi của các sản phẩm điện ảnh đơn thuần. Đây là sự đầu tư cho ký ức dân tộc, cho giáo dục lịch sử và cho thương hiệu văn hóa Việt Nam.

Những bộ phim lịch sử chất lượng cao có thể giúp thế hệ trẻ tiếp cận lịch sử bằng ngôn ngữ hiện đại, trực quan và hấp dẫn hơn sách giáo khoa. Quan trọng hơn, trong thời đại cạnh tranh về sức mạnh mềm, phim lịch sử còn là một “đại sứ văn hóa” đặc biệt hiệu quả. Tôi cho rằng, sự tham gia của các doanh nghiệp lớn vào lĩnh vực phim lịch sử là một tín hiệu cho thấy Việt Nam đang từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa hiện đại, nơi văn hóa, kinh tế và công nghệ được kết nối với nhau để tạo ra những giá trị mới cho xã hội và cho sự phát triển bền vững của đất nước.

- Thưa ông, ông có nghĩ Hà Nội chính là kho chất liệu vô tận cho điện ảnh lịch sử?

- Hà Nội không chỉ là một kho tư liệu lịch sử phong phú mà còn là một trong những không gian điện ảnh tiềm năng nhất của Việt Nam. Rất ít thủ đô trong khu vực Đông Nam Á có được chiều sâu lịch sử liên tục hơn một nghìn năm như Hà Nội. Từ khi vua Lý Thái Tổ ban "Chiếu dời đô" năm 1010, Thăng Long - Hà Nội đã trở thành trung tâm chính trị, văn hóa và trí tuệ của quốc gia qua nhiều triều đại. Chỉ riêng khu vực Hoàng thành Thăng Long đã chứa đựng những câu chuyện trải dài từ thời Lý, Trần, Lê sơ, Lê Trung hưng cho đến thời Nguyễn. Đây là không gian hiếm hoi có thể kể những câu chuyện về sự hình thành quốc gia Đại Việt, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, sự phát triển của văn minh Thăng Long và hành trình dựng nước, giữ nước của dân tộc. Bên cạnh đó, Hà Nội còn sở hữu hệ thống di sản văn hóa đặc biệt đa dạng. Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là trường đại học đầu tiên của Việt Nam mà còn là biểu tượng cho truyền thống hiếu học và tinh thần trọng dụng nhân tài. Đây là chất liệu quý giá để xây dựng những bộ phim về giáo dục, khoa bảng, các danh nhân như Chu Văn An, Nguyễn Trãi hay các bậc hiền tài của dân tộc...

Ngoài di tích và không gian vật thể, Hà Nội còn sở hữu nguồn tài nguyên nhân văn đặc biệt phong phú. Đây là quê hương hoặc nơi gắn bó với nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, học giả, nghệ sĩ và nhân vật lịch sử nổi tiếng. Từ Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo đến Nguyễn Trãi, Quang Trung, Hồ Chí Minh, mỗi nhân vật đều có thể trở thành trung tâm của những tác phẩm điện ảnh lớn. Một lợi thế khác mà Hà Nội đang có là sự kết hợp giữa di sản và đô thị hiện đại. Điều này tạo điều kiện để phát triển các loại hình phim lịch sử, phim dã sử, phim văn hóa, phim truyền hình cổ trang cũng như các sản phẩm điện ảnh kết hợp công nghệ số.

Trong xu thế phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay, Hà Nội hoàn toàn có thể trở thành một “phim trường lịch sử mở”, tương tự như Bắc Kinh, Tây An của Trung Quốc hay Gyeongju của Hàn Quốc. Nếu được khai thác bằng ngôn ngữ điện ảnh hiện đại, Hà Nội không chỉ là bối cảnh của phim lịch sử mà còn có thể trở thành một trung tâm sáng tạo nội dung lịch sử mang tầm khu vực, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và nâng cao sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XXI.

- Theo ông, muốn có những bộ phim lịch sử đủ sức ra rạp quốc tế, Nhà nước cần đồng hành với các đơn vị sản xuất phim ra sao?

- Kinh nghiệm quốc tế cho thấy thành công của một bộ phim lịch sử không phải là thành công của riêng đạo diễn hay nhà sản xuất mà là kết quả của cả một hệ sinh thái sáng tạo, nơi Nhà nước, doanh nghiệp, giới học thuật, ngành du lịch và công nghiệp văn hóa cùng tham gia kiến tạo giá trị. Trước hết, Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo thể chế và xây dựng môi trường phát triển dài hạn cho điện ảnh lịch sử. Ở nhiều quốc gia thành công về điện ảnh, Nhà nước không làm thay doanh nghiệp nhưng tạo ra những điều kiện để doanh nghiệp có thể đầu tư lâu dài.

Đối với Việt Nam, cần có các chính sách dài hạn như quỹ hỗ trợ điện ảnh, cơ chế ưu đãi thuế cho phim lịch sử, đầu tư hạ tầng trường quay, trung tâm kỹ xảo hiện đại, đồng thời hỗ trợ các dự án tham gia liên hoan phim và hệ thống phát hành quốc tế. Quan trọng hơn, điện ảnh cần được đặt trong chiến lược tổng thể phát triển công nghiệp văn hóa quốc gia chứ không chỉ được xem là một hoạt động nghệ thuật đơn lẻ.

Bên cạnh đó, các nhà sử học, khảo cổ học, chuyên gia văn hóa, mỹ thuật cổ truyền và phục trang cần tham gia ngay từ giai đoạn đầu của dự án. Họ không chỉ giúp kiểm chứng tư liệu mà còn góp phần tái hiện đời sống xã hội, kiến trúc, nghi lễ, ngôn ngữ và thế giới quan của từng thời kỳ lịch sử.

Điện ảnh Việt Nam cần chuyển từ tư duy “kể lại lịch sử” sang tư duy “kể chuyện bằng lịch sử”. Đây là điểm mấu chốt quyết định khả năng thành công trên thị trường quốc tế.

Với tiềm năng sẵn có, Hà Nội không chỉ sở hữu nguồn chất liệu lịch sử phong phú mà còn có điều kiện để trở thành trung tâm sản xuất nội dung lịch sử của Việt Nam. Nếu biết kết nối giữa di sản, điện ảnh, công nghệ số và du lịch sáng tạo, Hà Nội hoàn toàn có thể trở thành một “kinh đô điện ảnh lịch sử” của Việt Nam trong tương lai.

Tôi cho rằng, một bộ phim lịch sử thành công không chỉ là thành công của điện ảnh. Đó còn là thành công của ngoại giao văn hóa, của du lịch, của công nghiệp sáng tạo và của thương hiệu quốc gia. Vì thế, muốn đưa lịch sử Việt Nam ra thế giới, chúng ta không chỉ cần những bộ phim lớn, mà cần một chiến lược quốc gia về kể chuyện bằng văn hóa. Khi lịch sử được chuyển hóa thành điện ảnh, điện ảnh sẽ trở thành sức mạnh mềm và khi sức mạnh mềm được lan tỏa, đó chính là lúc hình ảnh Việt Nam được định vị trên bản đồ văn hóa thế giới.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Thái Sơn thực hiện

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/ts-bui-van-tuan-pho-vien-truong-vien-ha-noi-hoc-va-dao-tao-quoc-te-truong-dai-hoc-thu-do-ha-noi-ha-noi-co-tiem-nang-cua-mot-kinh-do-dien-anh-lich-su-1160363.html