TS Cấn Văn Lực: TP.HCM cần huy động khoảng 1,7 triệu tỷ đồng/năm cho tăng trưởng
Trung bình mỗi năm giai đoạn 2026-2030, TP.HCM cần huy động khoảng 1,7 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội, tương đương 22% tổng nhu cầu cả nước.
Phát biểu tại phiên thảo luận chuyên đề Huy động và kết nối dòng vốn quốc tế cho TP.HCM trong khuôn khổ Diễn đàn kinh tế Mùa Thu 2026 sáng 27/10, TS Cấn Văn Lực cho rằng giữa bối cảnh dòng vốn toàn cầu tìm kiếm các thị trường mới, bài toán đặt ra cho TP.HCM không chỉ là thu hút vốn, mà còn kết nối đúng nguồn vốn với đúng cơ hội đầu tư, tạo ra động lực tăng trưởng thực tế.
Tăng trưởng 2 con số đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn
Theo TS Cấn Văn Lực, từ kinh nghiệm quốc tế, các quốc gia trong thời kỳ tăng trưởng 2 con số luôn có nhu cầu vốn rất lớn.
Bài học tổng kết từ 5 quốc gia có quy mô tương đồng từng đạt tốc độ tăng trưởng quanh mức 10%/năm cho thấy tổng vốn đầu tư xã hội phải duy trì ở mức 35% - 40% GDP, với tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư hàng năm đạt 13 - 15%/năm.
Và Việt Nam nói chung, TP.HCM nói riêng cũng không nằm ngoài nguồn lực này.
“Đối với Việt Nam, chúng tôi tổng kết từ thời kỳ Đổi Mới đến nay, yếu tố vốn cũng đóng góp 45 - 50% GDP. Trong giai đoạn tới, dù năng suất tổng nhân tố (TFP) cải thiện, quy mô vốn đầu tư của Việt Nam vẫn phải duy trì khoảng 40% GDP và đóng góp 40% - 42% cho tăng trưởng kinh tế”, ông Lực nói.

TS Cấn Văn Lực chia sẻ tại phiên thảo luận chuyên đề Huy động và kết nối dòng vốn quốc tế cho TP.HCM trong khuôn khổ Diễn đàn kinh tế Mùa Thu 2026.
Theo đó, để đạt các mục tiêu tăng trưởng cao, từ nay đến năm 2030, trung bình mỗi năm cả nước cần từ 280 - 300 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng vốn bình quân 14%/năm.
Tính chung giai đoạn 2026 - 2030, cả nước cần khoảng gần 1.500 tỷ USD cho đầu tư phát triển.
Trong đó, ngân sách nhà nước chỉ đảm bảo được khoảng 20 - 22%, còn lại 78% phải huy động từ khu vực tư nhân trong nước và quốc tế.
Với TP.HCM, trung bình mỗi năm Thành phố cần huy động khoảng 1,7 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội, tương đương 22% tổng nhu cầu vốn cả nước.
Trong tổng nhu cầu này, vốn ngân sách Thành phố chỉ đảm bảo khoảng 20-22%, cao nhất cũng chỉ 30%, còn lại hơn 70% do khối tư nhân đóng góp.

Hiện tại, vốn tư nhân trong nước đóng góp cho tăng trưởng của TP.HCM chỉ khoảng 50% (thấp hơn bình quân cả nước là 55%), nhưng bù lại vốn FDI lại đóng góp cao hơn bình quân cả nước, chiếm 21% (bình quân cả nước là 17%).
Ông Lực cho rằng vốn tư nhân rất quan trọng và đây là nguồn lực TP.HCM cần tập trung thu hút.
7 nguồn lực cần gấp rút khơi thông
Nhu cầu vốn lớn, nhưng nền kinh tế hiện phụ thuộc quá lớn vào ngân hàng. TS Cấn Văn Lực chỉ rõ thực trạng lệch pha nghiêm trọng khi kênh tín dụng ngân hàng đang gánh tới 51% tổng lượng vốn cho toàn bộ nền kinh tế và có xu hướng tăng thêm. Trong khi đó, kênh thị trường vốn (bao gồm thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp) mới chỉ đáp ứng được khoảng 13% - 14% tổng vốn.
Nếu cộng cả trái phiếu Chính phủ (khoảng 10%), tổng huy động từ thị trường vốn chỉ đạt 23% - mức quá thấp đối với một nền kinh tế năng động, nhất là với siêu đô thị như TP.HCM.
Một điểm đáng chú nữa là nguồn tiền tiết kiệm trong dân đang rất lớn nhưng đang có xu hướng giảm dần.
Trung bình từ 2025 về trước, Việt Nam có lợi thế nguồn tiết kiệm trong dân tương đương 35% GDP, cao hơn tỷ lệ đầu tư thực tế khoảng 31% GDP. Tức có khoảng 4% tiền nhàn rỗi. Nhưng tỷ lệ này đang có xu hướng thu hẹp nhanh, dự kiến đến năm 2026 chỉ chiếm khoảng 33% GDP.
Do đó, không thể tiếp tục trông chờ vào nguồn tiền gửi ngắn hạn trong dân để tài trợ cho các dự án hạ tầng 10-20 năm.
Để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn, TS Cấn Văn Lực cho rằng cần chủ động khai thác 7 nhóm nguồn lực tài chính bổ sung vốn cho nền kinh tế, để giảm phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng.
Thứ nhất là phát triển thị trường tài chính xanh và tài chính quốc tế. Ông Lực cho rằng với kênh này, TP.HCM có lợi thế Trung tâm Tài chính Quốc tế, cần chuẩn hóa danh mục dự án, chương trình cụ thể để giải ngân thực tế, thay vì dừng lại ở các Biên bản ghi nhớ.
Thứ 2 là thúc đẩy thặng dư thương mại để tăng thêm nguồn ngoại tệ cùng các nguồn khác từ du lịch, kiều hối, thu hút FDI.

Chuyên gia kiến nghị TP.HCM chia sẻ vốn đầu tư công hợp lý hơn từ hạ tầng giao thông đến y tế, giáo dục, khoa học công nghệ...
Thứ 3 là tận dụng việc nâng hạng thị trường chứng khoán và tăng tín nhiệm Quốc gia. Việc nâng hạng thị trường chứng khoán từ cận biên lên mới nổi kỳ vọng năm nay và vài năm tới Việt Nam có thể thu hút thu hút 7-9 tỷ USD dòng vốn gián tiếp.
Hai Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM và Đà Nẵng phải sớm vận hành với các cơ chế đặc thù, cho phép tự do chuyển đổi và luân chuyển dòng vốn để kích thích giao dịch tài chính toàn cầu.
Nguồn tiếp theo là thị trường tài sản số/tài sản mã hóa. Theo ông Lực, Việt Nam hiện có 17-18 triệu người tham gia đầu tư tài sản số, cần sớm ban hành khung pháp lý để quản lý và thu hút nguồn lực này về phát triển trong nước.
Tiếp đó là kênh thị trường tín chỉ carbon, phải sớm khai thác tiềm năng mua bán tín chỉ carbon quốc tế gắn liền với mục tiêu Net Zero 2050.
Cuối cùng là các nguồn lực khác, trong đó đặc biệt quan tâm tháo gỡ dự án tồn đọng và tiết kiệm chống lãng phí. Cả nước đang có khoảng 1.500 vướng mắc và TP.HCM con số dự án tồn đọng chiếm khá lớn. Giải quyết dứt điểm 1.500 dự án đang bị vướng mắc pháp lý này để đưa nguồn vốn vào phát triển. Cùng với đó là đẩy nhanh hoàn thuế cho doanh nghiệp để tăng vòng quay tiền.
“Có nhiều nguồn lực để huy động vốn hiệu quả chứ không chỉ có kênh ngân hàng”, ông Lực khẳng định.
Với riêng TP.HCM, ông Lực nói thêm cần cơ cấu lại đầu tư công theo hướng cân đối hơn. Hiện khoảng 80% vốn đầu tư công của thành phố tập trung vào hạ tầng giao thông. Đây là lĩnh vực quan trọng, nhưng Thành phố cũng cần rà soát, phân bổ nguồn lực hợp lý hơn cho khoa học - công nghệ, y tế, giáo dục và văn hóa.
Đầu tư cho những lĩnh vực này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo và chất lượng tăng trưởng dài hạn.
