TS. Nguyễn Hữu Cẩn: Cần hình thành văn hóa tôn trọng tài sản trí tuệ
Trong bối cảnh xâm phạm bản quyền diễn biến phức tạp, TS. Nguyễn Hữu Cẩn nhấn mạnh tài sản trí tuệ là hạ tầng mềm cốt lõi, cần chuyển mạnh sang quản trị chiến lược.
Bước chuyển dịch từ tư duy “quản lý” sang “quản trị”
Tài sản trí tuệ chính là ngôn ngữ chung để kết nối khoa học với thị trường, kết nối nghiên cứu với doanh nghiệp và kết nối công nghệ với dòng vốn đầu tư.
Trao đổi với phóng viên, TS. Nguyễn Hữu Cẩn - Quyền Viện trưởng Viện Sở hữu trí tuệ Quốc gia (Bộ KH&CN) nhìn nhận từ góc độ quản trị hiện đại, đây không chỉ đơn thuần là kết quả đầu ra thụ động của các phòng thí nghiệm, mà đã trở thành nguồn lực cốt lõi định hình lợi thế cạnh tranh của mỗi tổ chức và quốc gia.
Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, nguồn lực phát triển không còn gói gọn hay phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố truyền thống như nguồn vốn tài chính, lực lượng lao động phổ thông hay tài nguyên thiên nhiên hữu hình. Thay vào đó, chính tri thức, giải pháp công nghệ và dữ liệu kỹ thuật mới đóng vai trò ngày càng quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp.

TS. Nguyễn Hữu Cẩn (Quyền Viện trưởng Viện Sở hữu trí tuệ Quốc gia, Bộ KH&CN). Ảnh: NP
Quyền sở hữu chính là cơ chế pháp lý tối quan trọng để biến tri thức thành tài sản thực hữu, biến các kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thành hàng hóa thương mại, và biến những ý tưởng sáng tạo sơ khai thành nguồn lực phát triển có khả năng giao dịch, thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ trên thị trường.
Thực tế cho thấy, nếu không có một cơ chế sở hữu phù hợp và rành mạch, phần lớn các kết quả nghiên cứu đỉnh cao hay các phát kiến đổi mới sẽ chỉ dừng lại ở góc độ tri thức công bố trên các tạp chí hoặc nằm im trên các trang báo cáo khoa học. Ngược lại, khi được quản trị tốt, nguồn lực này sẽ lập tức trở thành một công cụ kinh tế đặc biệt quan trọng, tạo ra lợi thế cạnh tranh độc quyền, thu hút mạnh mẽ các dòng vốn đầu tư và thúc đẩy sự hình thành của các doanh nghiệp công nghệ thế hệ mới.
Khai thác tài sản trí tuệ làm nhiên liệu đổi mới sáng tạo
Khi được chuyển hóa thành các quyền pháp lý vững chắc và được khai thác thương mại một cách bài bản, nguồn lực này sẽ tạo ra nguồn lực vật chất dồi dào để quay trở lại thúc đẩy động lực sáng tạo, tái đầu tư một cách hiệu quả cho hoạt động nghiên cứu và phát triển tiếp theo.
Từ góc độ quản trị thực tiễn, ông Cẩn cho rằng vấn đề cốt lõi của Việt Nam hiện nay không phải là chúng ta thiếu các kết quả nghiên cứu hay thiếu những ý tưởng sáng tạo, mà điểm nghẽn lớn nhất là chưa thực sự khơi dậy được nguồn lực khổng lồ đang tồn tại âm thầm trong các viện nghiên cứu, các trường đại học và ngay trong các khối doanh nghiệp.
Để giải quyết bài toán này, ba góc nhìn chiến lược mang tính hành động cần phải được tập trung thực hiện một cách đồng bộ:
Một là, chuyển mạnh tư duy quản lý kết quả nghiên cứu sang tư duy quản trị: Lâu nay, các đơn vị thường có thói quen quản lý mang tính hành chính đối với các đề tài sau khi hoàn thành. Tư duy mới đòi hỏi mỗi kết quả nghiên cứu, mỗi giải pháp công nghệ và mỗi dữ liệu kỹ thuật cần được nhận diện sớm như một tài sản có giá trị kinh tế tiềm năng.
Điều này đòi hỏi phải tích hợp hoạt động bảo hộ và xác lập quyền ngay từ khi bắt đầu bấm nút nghiên cứu, chứ không phải là chỉ thực hiện đăng ký bảo hộ theo kiểu "chữa cháy" ở giai đoạn cuối.

GS.TS. Trần Hồng Thái - Chủ tịch VAST: "Để công nghệ có thể phát triển bền vững thì chúng ta vẫn phải tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản". Ảnh: NP
Hai là, xây dựng năng lực toàn diện cho hệ sinh thái: Một startup công nghệ không thể phát triển bền vững nếu đội ngũ sáng lập hoàn toàn "mù mờ" hoặc không hiểu sâu sắc về chiến lược sở hữu. Một trung tâm đổi mới sáng tạo cũng không thể hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả nếu bản thân thiếu năng lực hỗ trợ khai thác, định giá, thương mại hóa và bảo vệ tài sản. Vì vậy, bên cạnh hạ tầng vật lý và hạ tầng số, cần phải coi hạ tầng về quyền sở hữu là một cấu phần nền tảng của hệ sinh thái.
Ba là, tạo ra cơ chế linh hoạt để tham gia vào các dòng chảy kinh tế: Thể chế cần phải khơi thông và thừa nhận khả năng góp vốn kinh doanh bằng tài sản trí tuệ, định giá chính xác quyền sở hữu, thúc đẩy mạnh mẽ mô hình hình thành doanh nghiệp spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ từ các trường, viện) và hỗ trợ đưa công nghệ ra thị trường nhằm kết nối trực tiếp với các nhà đầu tư.
Giá trị nằm ở hệ sinh thái kết nối mở
Nguồn lực tri thức của các nhà khoa học chỉ thực sự phát huy được giá trị kinh tế cốt lõi khi được đặt trong một hệ sinh thái kết nối mở. Một bằng sáng chế tự thân, dù mang hàm lượng công nghệ cao đến đâu, cũng chưa thể tự tạo ra được giá trị thặng dư nếu không được kết nối chặt chẽ với các doanh nghiệp, với nhu cầu thực tế của thị trường, các nhà đầu tư tài chính và năng lực sản xuất của nhà máy.
Tương tự, một startup dù sở hữu công nghệ tốt nhưng nếu đi một mình và thiếu kết nối hệ sinh thái thì cũng rất khó có thể tăng trưởng hay mở rộng quy mô. Đổi mới sáng tạo hiện đại không có chỗ cho mô hình khép kín hay cục bộ, mà giá trị lớn nhất nằm ở khả năng kết nối linh hoạt và khả năng chia sẻ về mặt nguồn lực giữa các chủ thể khác nhau.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tiến trình chuyển đổi số toàn diện. Xu hướng tất yếu để bứt phá là cả nước phải chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy hỗ trợ mang tính sự vụ sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái vững chắc dựa trên nguồn lực tri thức.
Để đạt được mục tiêu chiến lược đó, chúng ta cần đồng thời xây dựng và củng cố vững chắc ba nền tảng kiềng ba chân: Nền tảng về thể chế pháp lý thông thoáng, nền tảng hạ tầng đổi mới sáng tạo hiện đại, và quan trọng nhất là nền tảng quản trị có hiệu quả. Chỉ khi các nền tảng này gắn kết, văn hóa tôn trọng chất xám mới được định hình, làm bệ phóng cho các doanh nghiệp nội địa tự tin cạnh tranh sòng phẳng trên sân chơi khu vực và quốc tế.











