Từ bảo tồn di sản đến kinh tế di sản: Gợi mở từ làng giấy bản Dìa Trên

Một buổi chiều đầu tháng Chín, tôi đến làng giấy bản Dìa Trên, xã Quảng Uyên. Giữa núi rừng Cao Bằng hùng vĩ, làng Dìa Trên vẫn lặng lẽ giữ gìn một nghề truyền thống độc đáo - nghề làm giấy bản của người Nùng An. Trong gian bếp ấm, bên máng gỗ và những bó vỏ cây, tiếng chày giã bột vẫn vang lên đều đặn, như nhịp thở quen thuộc của bản làng bao đời.

Trong một khoảng sân nhỏ, chị Nông Thị Xanh, sinh năm 1990, người Nùng An, ở xóm Quốc Dân, đứng bên bể xeo giấy. Chị đưa khuôn xuống nước, khẽ khuấy rồi nhấc lên bằng một động tác đã thành quen thuộc. Nước rút qua khung tre, để lại một lớp sợi mỏng. Một tờ giấy bắt đầu như thế.

Không máy móc hiện đại, không dây chuyền sản xuất. Phía sau tờ giấy ấy là vỏ cây mạy sla, nước, vôi, những dụng cụ khá thô sơ và rất nhiều công sức. Quan trọng hơn, đó là kỹ thuật được những gia đình người Nùng An truyền cho nhau qua nhiều thế hệ.

Trong căn nhà nhỏ bên cạnh, những tờ giấy được dán lên tường nhà để phơi khô. Trên giá là quạt, sổ tay, giấy màu và nhiều sản phẩm người dân làm từ giấy bản. Tôi còn được xem những trang sách chữ Hán cũ được một gia đình lưu giữ. Nhìn những trang giấy đã nhuốm màu thời gian, tôi chợt nghĩ đến một giá trị khác của giấy bản: trước khi trở thành sản phẩm hàng hóa hay quà lưu niệm như hôm nay, giấy đã từng là nơi lưu giữ chữ viết, gia phả, thơ ca, phong tục và ký ức của nhiều thế hệ.

Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phan Thăng An và đoàn công tác khảo sát làng nghề làm giấy bản xóm Quốc Dân, xã Quảng Uyên.

Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phan Thăng An và đoàn công tác khảo sát làng nghề làm giấy bản xóm Quốc Dân, xã Quảng Uyên.

Dìa Trên hôm nay không phải một làng nghề chỉ còn tồn tại trong ký ức. Người dân vẫn làm giấy, vẫn sáng tạo sản phẩm và đã tham gia các hoạt động trải nghiệm du lịch. Những năm gần đây, Cao Bằng cũng đã từng bước hỗ trợ nâng cao chất lượng giấy, sáng tạo sản phẩm lưu niệm, kết nối làng nghề với du lịch và Công viên địa chất toàn cầu UNESCONon nước Cao Bằng.

Đứng giữa một làng nghề còn giữ được khá rõ không gian sống và cách làm truyền thống, điều khiến tôi suy nghĩ nhất không phải nghề có còn hay không. Nghề vẫn còn. Câu hỏi khó hơn là: mười năm, hai mươi năm nữa, còn bao nhiêu người muốn tiếp tục làm nghề?

KHI BẢO TỒN PHẢI ĐI CÙNG SINH KẾ

Chúng ta thường nói đến bảo tồn làng nghề từ góc độ văn hóa. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Một nghề thủ công chỉ thực sự sống khi còn người làm nghề. Mà người làm nghề, trước hết, phải sống được bằng công việc của mình. Nếu thu nhập từ nghề không đủ sức cạnh tranh với những lựa chọn sinh kế khác thì rất khó thuyết phục người trẻ ở lại chỉ bằng lời kêu gọi giữ gìn truyền thống.

Một thế hệ có thể giữ nghề bằng tình cảm, tâm huyết và trách nhiệm với cha ông; nhưng để nghề đi qua nhiều thế hệ thì tình yêu nghề phải được nâng đỡ bằng một sinh kế đủ tốt và một tương lai có thể nhìn thấy.

Bởi vậy, câu hỏi đối với Dìa Trên không nên chỉ dừng ở việc làm thế nào giữ được nghề làm giấy, mà cần đi thêm một bước: làm thế nào để giá trị của di sản tạo ra sinh kế đủ tốt để chính người dân muốn giữ nghề?

Đó là điểm chuyển từ bảo tồn đơn thuần sang một cách tiếp cận có thể gọi là kinh tế di sản.

Tôi hiểu kinh tế di sản ở đây không phải là đem di sản ra thương mại hóa bằng mọi giá. Đó là tìm cách chuyển những giá trị văn hóa, tri thức bản địa, kỹ năng thủ công và câu chuyện của cộng đồng thành giá trị kinh tế một cách có giới hạn, có trách nhiệm; trong đó phần giá trị được tạo thêm phải mang lại lợi ích thiết thực cho chính những người đang gìn giữ và thực hành nghề.

Nếu chỉ đặt mục tiêu giữ một kỹ thuật, chúng ta dễ nghĩ đến hỗ trợ kinh phí, xây nhà trưng bày, dựng một cổng làng hoành tráng, mua thiết bị hay tổ chức trình diễn. Những việc ấy có thể cần, nhưng không phải là đích đến của bảo tồn. Muốn nghề tiếp tục sống trong cộng đồng thì phải nhìn cả vòng đời của nó: cây nguyên liệu có còn không; người thợ có sống được bằng nghề không; sản phẩm có đủ tốt, đủ tiện ích và có người mua không; và cuối cùng, có người trẻ nào muốn tiếp tục đứng bên bể xeo giấy hay không.

Một cuốn sách chữ Hán cũ được người dân Dìa Trên lưu giữ.

Một cuốn sách chữ Hán cũ được người dân Dìa Trên lưu giữ.

KHÔNG NHẤT THIẾT LÀM NHIỀU GIẤY HƠN

Giấy thủ công khó có thể cạnh tranh với giấy công nghiệp về năng suất và giá thành. Nếu giấy Dìa Trên cũng được định giá chủ yếu bằng kích thước, số lượng hay những công dụng thông thường thì người thợ luôn ở thế bất lợi. Vì vậy, Dìa Trên không nhất thiết phải tìm cách làm thật nhiều giấy. Điều quan trọng hơn là làm cho mỗi tờ giấy có giá trị cao hơn. Kinh nghiệm của Nhật Bản với Washi đáng để tham khảo ở điểm này.

Năm 2014, UNESCO ghi danh “Washi, craftsmanship of traditional Japanese hand-made paper” vào Danh sách đại diện của di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Hồ sơ khi đó gồm ba truyền thống làm giấy, trong đó có Hon-minoshi ở thành phố Mino, tỉnh Gifu. UNESCO ghi nhận các biện pháp bảo vệ không chỉ tập trung vào kỹ thuật mà còn gồm đào tạo, triển lãm, trình diễn trong trường học, duy trì cây dâu giấy làm nguyên liệu và khuyến khích sử dụng giấy truyền thống trong thiết kế đương đại. 

Điều đáng học ở Washi vì thế không chỉ là một tờ giấy đẹp. Đó là cách tổ chức một hệ sinh thái để nghề thủ công có thể tiếp tục sống trong xã hội hiện đại. Dìa Trên không cần và cũng không nên sao chép Nhật Bản. Nhưng có thể học cách họ giữ cái cốt lõi của nghề đồng thời làm tăng giá trị sản phẩm.

Theo tôi, trước hết nên giữ thật tốt một dòng giấy nguyên bản và có thể nghiên cứu xây dựng thương hiệu: Giấy Dìa Trên - Dìa Trên Heritage Paper. Đây mới là một gợi ý về định vị, chưa phải tên thương hiệu đã được đăng ký. Nếu triển khai, điều quan trọng trước cả logo hay bao bì là cộng đồng phải trả lời được: thế nào mới được gọi là giấy Dìa Trên; sử dụng nguyên liệu gì; sản xuất ở đâu; những công đoạn nào cần giữ thủ công; yêu cầu chất lượng ra sao.

Sau đó mới tính đến nhận diện, bảo hộ sở hữu trí tuệ và truy xuất nguồn gốc. Một tập giấy có thể cho người mua biết người làm là ai, được làm ở đâu, từ nguồn nguyên liệu nào. Khi ấy, người mua không chỉ mua một vật liệu, mà còn mua xuất xứ, kỹ năng thủ công và câu chuyện đứng sau sản phẩm.

Dìa Trên cũng không bắt đầu từ con số không. Người dân hiện đã làm quạt, sổ tay, giấy màu, túi quà, phong bì, tranh và nhiều sản phẩm khác từ giấy bản. Vì vậy, vấn đề bây giờ không phải tiếp tục kêu gọi bà con “đa dạng hóa sản phẩm” một cách chung chung.

Việc cần làm là chọn lọc, nâng chất lượng, tăng tính tiện ích và nâng giá trị những sản phẩm người dân đã làm. Không nhất thiết phải có thật nhiều mẫu hàng. Một số sản phẩm đẹp, hữu dụng, có bản sắc và được làm thật tốt có thể đem lại giá trị cao hơn nhiều sản phẩm chỉ dừng ở mức lưu niệm thông thường: giấy viết, giấy thư pháp, sổ, thiệp, quạt, tranh, hộp quà, giấy mỹ thuật hoặc những sản phẩm trang trí phù hợp với đặc tính của giấy.

Cao Bằng còn có một lợi thế khác: nhiều giá trị văn hóa có thể gặp nhau trong cùng một sản phẩm. Rèn Phúc Sen, giấy Dìa Trên, hoa văn của đồng bào các dân tộc, hình ảnh núi đá, sông Quây Sơn, Thác Bản Giốc, Núi Mắt Thần… đều là những chất liệu thiết kế rất riêng.

Cao Bằng hoàn toàn có thể nghiên cứu một sản phẩm riêng: “Đèn Non nước Cao Bằng”. Đó trước hết nên là một thử nghiệm thiết kế. Có thể nghiên cứu sự kết hợp giữa kỹ thuật kim loại của người thợ thủ công Phúc Sen với giấy Dìa Trên để tạo ra một vật phẩm vừa có công năng, vừa mang hình ảnh và câu chuyện của Cao Bằng. Những họa tiết đặc trưng của núi đá, Thác Bản Giốc, sông Quây Sơn, hoa văn các dân tộc…, có thể được nghiên cứu đưa lên giấy để khi ánh sáng đi qua, mỗi chiếc đèn vừa là một sản phẩm thủ công, vừa gợi nhắc về vùng đất nơi nó được làm ra.

Nếu sản phẩm đủ đẹp, tiện dụng, bền, bảo đảm an toàn và được thị trường đón nhận, có thể từng bước phát triển thành một dòng sản phẩm văn hóa - du lịch đặc trưng của Cao Bằng.

Xa hơn, khi sản phẩm đã có chỗ đứng, người dân và các làng nghề có khả năng tham gia thực chất, có thể nghĩ đến việc tổ chức “Lễ hội lồng đèn Non nước Cao Bằng” vào một thời điểm thích hợp trong năm, gắn với không gian văn hóa và du lịch của tỉnh. Khi ấy, những chiếc đèn làm từ giấy Dìa Trên không chỉ được bán như một món quà, mà có thể cùng tạo nên một không gian ánh sáng mang bản sắc riêng của Cao Bằng, thu hút người dân và du khách.

Nhưng thứ tự cần được giữ đúng: làm ra sản phẩm tốt trước, tạo được thị trường và sự tham gia thực chất của cộng đồng, rồi mới nghĩ đến lễ hội. Không làm lễ hội trước rồi mới đi tìm sản phẩm.

Từ giấy bản truyền thống, người dân Dìa Trên đã phát triển nhiều sản phẩm phục vụ đời sống và du lịch.

Từ giấy bản truyền thống, người dân Dìa Trên đã phát triển nhiều sản phẩm phục vụ đời sống và du lịch.

TỪ TRẢI NGHIỆM Ở LUANG PRABANG NGHĨ VỀ DÌA TRÊN

Tôi từng có dịp đến Luang Prabang, Lào và trực tiếp trải nghiệm làm giấy Saa thủ công, khá giống điều tôi vừa thấy ở Dìa Trên. Nhưng điều khiến tôi nhớ hơn là cách người dân Luang Prabang đã đưa nghề làm giấy đi xa hơn việc bán những tờ giấy nguyên bản.

Một phóng sự ảnh của Báo Ảnh Việt Nam - Thông tấn xã Việt Nam cho thấy khá rõ điều đó. Tại những cơ sở làm giấy truyền thống ở Luang Prabang, có những ngôi nhà vừa là xưởng sản xuất, vừa là cửa hàng bán đồ lưu niệm. Khách đến có thể xem người dân làm nghề rồi mua sản phẩm ngay tại chỗ. Giấy Saa, làm từ vỏ cây dâu giấy, không chỉ dùng để viết, vẽ mà còn được phát triển thành album ảnh, lịch, tranh, hộp, đồ trang trí và nhiều loại quà lưu niệm. Người thợ còn sử dụng màu sắc và lá cây để tạo hiệu ứng thẩm mỹ trên bề mặt giấy. Chợ đêm Luang Prabang lại trở thành một đầu ra quan trọng cho những sản phẩm ấy.

Điều tôi thấy đáng học ở Luang Prabang không phải là làm thật nhiều mẫu hàng. Đó là cách giá trị của một tờ giấy được nối dài: từ cây nguyên liệu đến tờ giấy, từ tờ giấy đến sản phẩm, từ sản phẩm đến trải nghiệm và thị trường du lịch.

Trở lại Dìa Trên, tôi nghĩ Cao Bằng hoàn toàn có thể tìm con đường của riêng mình. Không phải sao chép Luang Prabang, càng không phải biến một bản Nùng An thành một khu du lịch giống nơi khác. Giá trị nằm ở chính những gì Dìa Trên đang có.

Khách đến làng có thể nghe người dân kể về cây làm giấy, xem các công đoạn, tự cầm khuôn xeo một tờ giấy, in hoặc ép lên đó một hình ảnh của Cao Bằng, tự đóng dấu mộc “Dìa Trên, Cao Bằng” rồi mang chính sản phẩm mình làm về.

Một tờ giấy do khách tự tay làm có thể không đều, không đẹp bằng giấy của người thợ. Nhưng giá trị của nó lại nằm ở chỗ khác: đó là ký ức về một nơi họ đã đến và một việc họ đã tự mình trải nghiệm. Khi ấy, người dân không chỉ bán giấy. Giá trị được tạo ra còn từ kỹ năng, thời gian, tri thức bản địa và câu chuyện của chính cộng đồng.

Dìa Trên đã được kết nối vào các hoạt động của Công viên địa chất Non nước Cao Bằng. Nếu khai thác tốt, đây là một lợi thế lớn. Nhưng mục tiêu không nên chỉ là tăng số lượt khách, mà phải làm sao để dòng khách tạo ra thu nhập thực sự cho người dân mà không làm mất đi sự chân thật của ngôi làng.

MUỐN GIỮ GIẤY, PHẢI TÍNH TỪ CÂY NGUYÊN LIỆU ĐẾN NGƯỜI KẾ NGHIỆP

Trong những việc cần làm, có một việc ít hấp dẫn hơn thiết kế sản phẩm hay quảng bá du lịch nhưng phải đi trước: hiểu rõ nguồn nguyên liệu. Mạy sla hiện phân bố ở đâu? Người dân đang lấy nguyên liệu bằng cách nào? Khả năng tái sinh, gây trồng ra sao? Nếu nhu cầu giấy tăng lên thì nguồn nguyên liệu có đáp ứng bền vững hay không? Không nên chờ đến khi sản phẩm bán tốt mới bắt đầu lo chuyện nguyên liệu.

Một làng nghề không thể bền vững nếu nguồn nguyên liệu tạo ra nghề không bền vững.

Cùng với nguyên liệu là chất lượng của tờ giấy. Giấy Dìa Trên có độ bền ra sao, độ pH thế nào, khả năng hút mực, độ bền màu và mức độ lão hóa đến đâu? Những câu hỏi này cần được trả lời bằng thử nghiệm khoa học, không bằng cảm nhận.

Nếu kết quả tốt, có thể nghiên cứu những phân khúc giá trị cao hơn như giấy mỹ thuật, thư pháp hoặc một số nhu cầu chuyên biệt. Nhưng chưa kiểm nghiệm thì không nên vội quảng bá giấy Dìa Trên như một loại giấy lưu trữ hay phục chế tài liệu. Giá trị truyền thống rất đáng quý, nhưng giá trị khoa học phải được chứng minh bằng khoa học.

Và cuối cùng vẫn là con người. Có thể xây thương hiệu, cải thiện điểm trải nghiệm, làm bao bì đẹp; nhưng nếu sau một thời gian dài không có lớp người trẻ tiếp tục đứng bên bể xeo giấy thì phần cốt lõi nhất của bảo tồn vẫn chưa thành công.

Người làm giấy trẻ hôm nay cũng không chỉ cần học kỹ thuật từ cha mẹ, ông bà. Họ cần hiểu sản phẩm, biết giao tiếp với khách, biết giới thiệu hàng hóa trên môi trường số, biết kể câu chuyện của làng bằng ngôn ngữ của thị trường hôm nay.

Nhà nước không thể quyết định thay một người trẻ rằng họ phải ở lại với nghề. Việc có thể làm là giúp cho lựa chọn ở lại với nghề trở thành một lựa chọn có tương lai.

Không gian cư trú, sản xuất và cảnh quan tự nhiên là một phần giá trị cần được gìn giữ khi phát triển du lịch tại Dìa Trên để thu hút khách du lịch.

Không gian cư trú, sản xuất và cảnh quan tự nhiên là một phần giá trị cần được gìn giữ khi phát triển du lịch tại Dìa Trên để thu hút khách du lịch.

ĐỂ DÌA TRÊN VẪN LÀ DÌA TRÊN

Điều hấp dẫn tôi ở Dìa Trên chính là sự chân thật: những ngôi nhà của người dân, sự thật thà, chân phương, hiếu khách của con người nơi đây, niềm say mê lao động, những bể xeo giấy, ruộng lúa bên cạnh, những tờ giấy phơi trên tường; cuộc sống gia đình và công việc làm nghề vẫn đan xen một cách tự nhiên. Đó là thứ rất khó xây mới bằng tiền.

Nếu phát triển du lịch mà những giá trị ấy dần biến mất thì có khi chúng ta thành công về xây dựng nhưng lại thất bại về bảo tồn.

Vì vậy, tôi không nghĩ Dìa Trên cần bắt đầu bằng một công trình thật lớn. Trước mắt, những việc rất bình thường có khi lại cần hơn: đường đi sạch sẽ; khu vực làm nghề gọn gàng, an toàn; nhà vệ sinh đủ tốt; biển chỉ dẫn vừa phải; một nơi giới thiệu sản phẩm thuận tiện; người dân được hỗ trợ kỹ năng đón khách.

Kiến trúc, cảnh quan và nhịp sống của làng nên được tôn trọng tối đa; đồng thời cần sắp xếp khu vực chăn nuôi, chuồng trại gia súc hợp lý, bảo đảm vệ sinh môi trường, cảnh quan và điều kiện đón khách. Giữ bản sắc không có nghĩa là giữ nguyên cả những điều không còn phù hợp với yêu cầu về vệ sinh, môi trường và chất lượng cuộc sống hôm nay.

Có thể hướng tới một cách làm mà tôi tạm gọi là “làng di sản sống”: người dân không phải rời ngôi nhà của mình để vào một khu trình diễn nghề được dựng lên cho khách xem; chính cuộc sống, công việc và không gian thật của họ là một phần của trải nghiệm.

Kinh nghiệm Luang Prabang cũng gợi ra một điều: nơi sản xuất, nơi bán sản phẩm và nơi khách trải nghiệm không nhất thiết phải tách thành ba không gian. Một ngôi nhà của người làm nghề, nếu được sắp xếp tốt, hoàn toàn có thể vừa là nơi làm giấy, vừa giới thiệu sản phẩm, vừa giúp khách hiểu nghề.

Đó có thể là hướng phù hợp với Dìa Trên hơn việc xây một trung tâm lớn tách khỏi đời sống của làng.

NHÀ NƯỚC NÊN LÀM NHỮNG VIỆC NGƯỜI DÂN KHÓ LÀM

Để Dìa Trên đi theo hướng đó, xã Quảng Uyên trước hết cần hiểu thật rõ làng nghề của mình: còn bao nhiêu hộ làm giấy, ai nắm kỹ thuật tốt, người trẻ nào muốn học nghề, thu nhập từ giấy hiện ra sao, hộ nào muốn tham gia đón khách, nguồn nguyên liệu đến từ đâu và người dân thực sự cần hỗ trợ điều gì. Không có dữ liệu thật thì rất dễ hỗ trợ theo cái chúng ta nghĩ người dân cần, chứ không phải cái họ thực sự cần.

Từ nền tảng đó, các ngành của tỉnh nên tập trung vào những việc từng hộ gia đình khó tự làm. Ngành văn hóa, thể thao và du lịch tập trung kiểm kê, tư liệu hóa tri thức nghề, bảo tồn không gian văn hóa, hỗ trợ kỹ năng đón khách và hoàn thiện sản phẩm trải nghiệm gắn với Công viên địa chất. Ngành nông nghiệp và môi trường khảo sát nguồn mạy sla, khả năng gây trồng, tái sinh và khai thác bền vững. Ngành khoa học và công nghệ hỗ trợ nghiên cứu chất lượng giấy, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và kết nối các viện, trường để kiểm nghiệm sản phẩm. Ngành công thương hỗ trợ thiết kế, bao bì, kết nối doanh nghiệp, hệ thống quà tặng, thương mại điện tử và thị trường. Ban Quản lý Công viên địa chất Non nước Cao Bằng tiếp tục phát huy vai trò cầu nối với chuyên gia, đối tác trong và ngoài nước, đồng thời gắn Dìa Trên với các hoạt động quảng bá, giáo dục và trải nghiệm phù hợp.

Những việc này thực ra đã có những bước khởi đầu. Cao Bằng đã phối hợp với các đối tác phát triển giấy bản, sản phẩm lưu niệm, tổ chức trải nghiệm và nâng cao chất lượng sản phẩm. Điều cần hơn trong giai đoạn tới là nối những hoạt động riêng lẻ thành một chuỗi giá trị tương đối hoàn chỉnh và ổn định.

Nếu cần một tổ chức chung cho người làm nghề, có thể nghiên cứu tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động thực chất để cùng giải quyết nguồn nguyên liệu, chất lượng, đơn hàng, thương hiệu và thị trường. Tổ chức ấy không làm thay người dân. Người thợ vẫn là người làm ra tờ giấy và cộng đồng phải là chủ thể quyết định làng nghề sẽ phát triển theo cách nào.

Nhà nước nên làm tốt những việc một hộ gia đình khó tự làm. Còn điều người dân làm tốt nhất - kỹ thuật, sự khéo léo, cách sống và câu chuyện của chính họ - hãy để họ tiếp tục làm và làm ngày càng tốt hơn.

Chị Nông Thị Xanh hướng dẫn khách nước ngoài thực hiện công đoạn xeo giấy bản truyền thống.

Chị Nông Thị Xanh hướng dẫn khách nước ngoài thực hiện công đoạn xeo giấy bản truyền thống.

BA NĂM NỮA, ĐIỀU GÌ ĐÁNG ĐỂ HỎI?

Hiệu quả bảo tồn Dìa Trên không nên chỉ đo bằng số tiền đầu tư, số lớp tập huấn, số hội nghị, số sản phẩm mới hay số lượt khách đến làng.

Sau một thời gian, điều đáng hỏi hơn là: thu nhập của người làm giấy có khá hơn không; giá trị một tờ giấy và công sức của người thợ có được trả tốt hơn không; có thêm người trẻ tự nguyện học nghề không; nguồn cây làm giấy có được duy trì bền vững hơn không; và từ giấy bản, Cao Bằng đã tạo thêm được bao nhiêu sản phẩm thực sự có chất lượng, tiện ích, có thị trường và mang lại thu nhập cho người dân?

Nếu những điều đó cùng chuyển biến, nghề đang sống.

Nếu nhà trưng bày đẹp hơn, khách đông hơn, sản phẩm nhiều hơn mà thu nhập của người làm nghề không tăng, người trẻ vẫn lần lượt rời nghề thì có lẽ chúng ta phải nhìn lại cách mình bảo tồn.

Tôi mong một ngày không xa, khi nhắc đến Cao Bằng, bên cạnh Thác Bản Giốc, Pác Bó, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng hay nghề rèn Phúc Sen, người ta sẽ biết thêm một cái tên: Giấy Dìa Trên.

Không phải vì nơi đây làm được thật nhiều giấy. Mà bởi giữa một thế giới ngày càng sản xuất nhanh hơn, người Nùng An ở một bản nhỏ của Cao Bằng vẫn giữ được cách làm một tờ giấy thật chậm, thật đẹp và có câu chuyện của riêng mình.

Vấn đề là làm sao để câu chuyện ấy không chỉ được kể lại như một ký ức. Nó phải tiếp tục tạo ra việc làm, thu nhập và niềm tự hào cho những người đang sống ở Dìa Trên.

Bởi suy cho cùng, giữ một làng nghề không phải là giữ nguyên nó trong quá khứ. Đó là giúp những giá trị tốt đẹp của quá khứ tìm được chỗ đứng trong đời sống hôm nay. Nghề phải nuôi được người, để chính người dân muốn giữ lấy nghề.

Minh Tâm

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/tu-bao-ton-di-san-den-kinh-te-di-san-goi-mo-tu-lang-giay-ban-dia-tren-3192104.html