Phát huy vai trò thuyết minh viên người bản địa vùng Công viên địa chất Non nước Cao Bằng
Có những câu chuyện về một miền đất chỉ thực sự trở nên sinh động khi được kể bằng tiếng nói của người đã sinh ra, lớn lên và gắn bó với miền đất ấy. Một điểm tham quan khi được người bản địa kể lại bằng ký ức, trải nghiệm và niềm tự hào của chính mình, nơi ấy trở thành một câu chuyện văn hóa có sức níu chân du khách. Đó cũng là giá trị đặc biệt của đội ngũ thuyết minh viên cộng đồng trong vùng Công viên địa chất (CVĐC) toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng. Phát huy tốt lực lượng này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách mà còn mở rộng sự tham gia của cộng đồng vào bảo tồn di sản, tạo sinh kế và lan tỏa giá trị của danh hiệu CVĐC toàn cầu UNESCO.
Một tiếng nói bản địa, nhiều giá trị được lan tỏa
Những năm qua, Cao Bằng từng bước phát triển các tuyến trải nghiệm trong vùng CVĐC toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng, gắn di sản địa chất với văn hóa bản địa, lịch sử và đời sống cộng đồng. Các tuyến trải nghiệm được đầu tư hạ tầng, biển chỉ dẫn, pano, điểm dừng chân, đồng thời, tăng cường quảng bá và xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng. Tiếp tục kết nối các cơ sở dịch vụ, điểm du lịch, làng nghề và cộng đồng dân cư, tổ chức tập huấn về kỹ năng làm du lịch, xây dựng sản phẩm và phục vụ du khách.
Trong chuỗi liên kết ấy, thuyết minh viên giữ vai trò quan trọng. Một du khách đến các điểm di sản vùng CVĐC Non nước Cao Bằng có thể quên một vài thông tin về niên đại hay tên gọi địa chất nhưng sẽ khó quên câu chuyện chân thành của một người dân kể về vùng đất, về nghề truyền thống của gia đình hay hình ảnh một nghệ nhân say sưa giới thiệu từng công đoạn làm giấy bản hoặc câu chuyện về cách người dân gìn giữ ngôi nhà sàn và những tập quán của cha ông.

Người dân vừa trực tiếp làm hương tại làng hương Phja Thắp vừa là thuyết minh viên kể câu chuyện về làng nghề và văn hóa bản địa tới du khách.
Công nghệ có thể giúp du khách tiếp cận thông tin nhanh hơn. Thuyết minh số, mã QR, bản đồ số, thực tế ảo có thể mở rộng khả năng tiếp cận di sản. Nhưng công nghệ không thay thế được sự tương tác giữa người với người, giọng kể, cảm xúc và trải nghiệm sống. Do đó, hướng đi phù hợp không phải lựa chọn giữa thuyết minh viên và công nghệ mà là kết hợp cả hai: công nghệ cung cấp thông tin nền, người bản địa tạo chiều sâu và cảm xúc cho câu chuyện.
Bà Hoàng Thị Huệ, Phó Giám đốc phụ trách Ban Quản lý CVĐC Non nước Cao Bằng cho biết: Hằng năm, Ban Quản lý duy trì tổ chức 1 - 2 lớp, trung bình mỗi lớp 50 - 70 người là người dân tại các làng nghề truyền thống, điểm du lịch cộng đồng, người dân đang sinh sống hoặc sống gần các điểm di sản CVĐC Non nước Cao Bằng. Nội dung tập huấn tập trung chia sẻ lợi ích, trách nhiệm của cộng đồng và vai trò của thuyết minh viên cộng đồng (nguyên tắc, tiêu chuẩn du lịch cộng đồng, điều kiện đăng ký kinh doanh, tổ chức hoạt động, chia sẻ lợi ích cộng đồng...). Trao đổi, bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, các yêu cầu cơ bản của người tham gia đón tiếp, hướng dẫn khách du lịch; kỹ năng xây dựng nội dung và kể chuyện, giới thiệu văn hóa địa phương; quy tắc ứng xử văn minh du lịch, bảo vệ môi trường, hạn chế rác thải. Thực hành xây dựng bài thuyết minh, giới thiệu du lịch tại điểm đến; kỹ năng tổ chức phục vụ, hướng dẫn tham quan, trải nghiệm cho du khách.
Chị Hoàng Thị Bày, người dân làng hương Phja Thắp, xã Quảng Uyên chia sẻ: Trước đây, khi đón khách đến làng hương, chúng tôi chủ yếu giới thiệu bằng những điều mình biết, những gì được cha ông truyền lại và những trải nghiệm trong quá trình làm nghề. Qua tập huấn, tôi nhận thấy biết về nghề là một chuyện, kể được câu chuyện về nghề để du khách hiểu và yêu nghề truyền thống lại là một chuyện khác. Tôi cũng mong những người làm du lịch cộng đồng ở Phja Thắp cùng nhau xây dựng cách giới thiệu thống nhất, nhưng vẫn giữ được nét riêng trong câu chuyện của mỗi gia đình, mỗi người làm nghề. Đặc biệt, cần tạo thêm những trải nghiệm để du khách được tận mắt xem, tự tay làm và tự mình cảm nhận các công đoạn làm hương, thay vì chỉ nghe giới thiệu rồi mua sản phẩm.
Mỗi người dân Phja Thắp đều có thể trở thành một người giới thiệu về quê hương mình. Người làm hương kể chuyện nghề; người cao tuổi kể chuyện làng; những người trẻ giới thiệu bằng công nghệ, mạng xã hội và ngoại ngữ… Khi mỗi người đều có ý thức giữ gìn từ những điều nhỏ nhất, hình ảnh làng hương sẽ được lan tỏa một cách tự nhiên và chân thực.
Để mỗi thuyết minh viên cộng đồng trở thành một “đại sứ di sản”
Lợi thế lớn nhất của thuyết minh viên bản địa là sự am hiểu và gần gũi. Nhưng đây cũng là nơi đặt ra yêu cầu về tính chính xác. Một câu chuyện truyền miệng có thể hấp dẫn nhưng nếu không được kiểm chứng, phân biệt rõ giữa truyền thuyết, ký ức cộng đồng và thông tin khoa học, lịch sử thì rất dễ dẫn đến việc diễn giải sai giá trị di sản.

Người dân làng rèn Phúc Sen giới thiệu sản phẩm nghề truyền thống, góp phần giúp du khách hiểu hơn về giá trị văn hóa và làng nghề được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Bởi vậy, đào tạo thuyết minh viên cộng đồng cần đi theo hướng kết hợp giữa tri thức khoa học và tri thức bản địa. Người dân kể câu chuyện của mình nhưng câu chuyện ấy cần được đặt trong hệ thống thông tin chuẩn xác về địa chất, lịch sử, văn hóa và môi trường. Những truyền thuyết địa phương có thể được sử dụng để tăng sức hấp dẫn nhưng cần giúp du khách nhận biết đâu là truyền thuyết, đâu là dữ liệu khoa học. Đây cũng là cách để mỗi thuyết minh viên trở thành một “đại sứ di sản” có trách nhiệm, thay vì chỉ là người cung cấp thông tin cho khách.
Bà Đỗ Thị Yến Ngọc, Thạc sĩ, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng địa chất, di sản và môi trường, Chuyên gia tư vấn của Mạng lưới CVĐC Việt Nam - một trong những chuyên gia đã nhiều lần trực tiếp đến tập huấn, hướng dẫn đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên cộng đồng của tỉnh cho rằng: Khi du khách tham quan các điểm di sản CVĐC Non nước Cao Bằng thì đội ngũ thuyết minh viên là người dân bản địa cần biết biến tri thức bản địa thành câu chuyện dễ hiểu, gần gũi và có sức gợi mở. Từ một tảng đá có thể bắt đầu bằng câu chuyện về quá trình hình thành địa chất, sau đó dẫn sang cảnh quan, nguồn nước, sản xuất nông nghiệp và đời sống cộng đồng. Một ngôi nhà có thể kể từ kiến trúc rồi mở rộng sang phong tục, tập quán, nghề truyền thống. Một món ăn có thể dẫn du khách đến mùa vụ, sản vật, văn hóa ứng xử và sinh kế của người dân. Khi biết kết nối những câu chuyện ấy, thuyết minh viên sẽ giúp du khách hiểu rằng di sản địa chất không nằm tách biệt với con người mà chính địa chất, cảnh quan và môi trường đã góp phần tạo nên cách con người sống, sản xuất và hình thành văn hóa nơi đây.
Phát huy vai trò thuyết minh viên người bản địa cần được xem là một phần trong chiến lược phát triển du lịch cộng đồng và bảo tồn di sản lâu dài với nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần tiếp tục xây dựng đội ngũ theo hướng có kiến thức, có kỹ năng và có bản sắc; thường xuyên cập nhật kiến thức địa chất, lịch sử, văn hóa, môi trường, kỹ năng giao tiếp, ngoại ngữ và xử lý tình huống. Xây dựng bộ nội dung thuyết minh chuẩn cho từng điểm, đồng thời, khuyến khích mỗi cộng đồng phát triển cách kể chuyện riêng.
Có cơ chế để cộng đồng thực sự được hưởng lợi từ hoạt động du lịch. Khi người dân thấy rằng bảo vệ một điểm di sản, giữ gìn nghề truyền thống, môi trường, cảnh quan và văn hóa cũng chính là bảo vệ sinh kế của mình, ý thức bảo tồn sẽ trở nên tự nhiên và bền vững hơn. Đồng thời, cần hình thành mạng lưới thuyết minh viên cộng đồng để họ thường xuyên trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ cách xử lý tình huống, cập nhật kiến thức và hỗ trợ nhau xây dựng sản phẩm.
Nghiên cứu xây dựng những “câu chuyện di sản” tiêu biểu do chính cộng đồng tham gia biên soạn; số hóa các câu chuyện bằng tiếng Việt, tiếng Anh và các ngôn ngữ phù hợp; kết nối với hệ thống QR, bản đồ số và nền tảng truyền thông du lịch.
Mỗi thuyết minh viên cộng đồng nếu được đào tạo bài bản, hỗ trợ đúng mức và trao cơ hội phát huy, sẽ trở thành một "đại sứ di sản" của quê hương đến với du khách trong nước và quốc tế. Để rồi, khi rời Cao Bằng, du khách không chỉ mang theo những bức ảnh đẹp về núi đá, thác nước, hang động hay những bản làng. Họ còn mang theo một câu chuyện về con người - những người đang sống, gìn giữ và kể tiếp câu chuyện của miền non nước qua từng thế hệ. Đây mới là cách danh hiệu toàn cầu CVĐC Non nước Cao Bằng thực sự đi vào đời sống, được kể bằng tiếng nói của cộng đồng và được tiếp nối bằng chính những người đang sống trong vùng di sản.

