Trao đổi kinh nghiệm phát huy giá trị di sản từ Việt Nam và Nhật Bản
HNN.VN - Tại Diễn đàn Hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản 2026, Phiên chuyên đề “Từ bảo tồn di sản đến công nghiệp văn hóa: Khai phá tiềm năng và kết nối cơ hội hợp tác địa phương” cho thấy, di sản đang được nhìn nhận như một nguồn lực cho phát triển khi được kết nối với cộng đồng, công nghệ, du lịch và công nghiệp văn hóa.

Đồng chí Hoàng Đạo Cương, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát biểu dẫn đề chuyên đề.
Ngày 6/9, tại TP. Huế, trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản 2026, các đại biểu tập trung trao đổi kinh nghiệm quảng bá di sản, phát triển du lịch văn hóa, bảo vệ và phát huy giá trị di sản gắn với cộng đồng, đồng thời thảo luận về ứng dụng công nghệ VR/AR, 3D Mapping và chuyển đổi số trong phục dựng, bảo tồn di sản.
Phát biểu dẫn đề, lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhấn mạnh, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa không chỉ là gìn giữ bản sắc, mà còn khơi dậy nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững, mở rộng không gian đối thoại và tăng cường sự hiểu biết, gắn kết giữa các quốc gia.
Bảo tồn bằng luật và nguồn lực cộng đồng
Một trong những kinh nghiệm được chia sẻ tại diễn đàn là câu chuyện bảo tồn làng Asuka của tỉnh Nara (Nhật Bản).
Từ những năm 1960, trước sức ép đô thị hóa từ khu vực Osaka, cảnh quan lịch sử của Asuka đứng trước nguy cơ bị thay đổi. Trong bối cảnh đó, bác sĩ Đông y Mitsui Keizo, người chuyển từ Osaka đến Asuka sinh sống, đã vận động bảo vệ không gian lịch sử, văn hóa của địa phương.
Ông Mitsui từng điều trị cho Matsushita Konosuke, nhà sáng lập Panasonic. Thông qua ông Matsushita, kiến nghị về tầm quan trọng của việc bảo tồn cảnh quan Asuka được chuyển tới Thủ tướng Sato Eisaku. Những nỗ lực này góp phần dẫn tới việc Nhật Bản ban hành Luật Bảo tồn Asuka năm 1980.
Theo Thống đốc tỉnh Nara - ông Yamashita Makoto, luật được xây dựng trên hai trụ cột: kiểm soát hoạt động phát triển và hỗ trợ tài chính đối với những chi phí phát sinh từ các quy định bảo tồn.
Tại một số khu vực của Asuka, mọi hoạt động phát triển đều bị cấm; không được xây dựng công trình mới hay bãi đỗ xe. Trên toàn địa bàn, việc xây dựng, mở rộng hoặc cải tạo công trình phải tuân thủ các quy định về vật liệu, trong đó mái nhà được sử dụng những vật liệu truyền thống như ngói, rơm, gỗ hinoki, đồng, gỗ; tường ngoài cũng phải sử dụng những vật liệu phù hợp.
Nhờ cơ chế này, cảnh quan Asuka từ những năm 1960 đến năm 2020 hầu như không thay đổi.
Tuy nhiên, bảo tồn không đặt toàn bộ chi phí lên vai người dân. Tỉnh và làng lập quỹ khoảng 3 tỷ yên, sử dụng lợi nhuận từ quỹ để hỗ trợ các hoạt động của địa phương. Chính phủ và tỉnh Nara cũng hỗ trợ khoảng 200 triệu yên mỗi năm để người dân sửa chữa mái nhà, tường ngoài và cải tạo nhà cổ.
Cách làm này cho thấy bảo tồn bền vững phải gắn với đời sống của cộng đồng. Người dân không chỉ là đối tượng phải tuân thủ các quy định bảo tồn mà còn phải có điều kiện và nguồn lực để sống cùng di sản.
Những nỗ lực lâu dài cũng tạo thêm giá trị cho du lịch. Năm 2025, Nara được công nhận là một trong những “Làng du lịch tốt nhất” (Best Tourism Villages). Di sản Asuka-Fujiwara cũng được ghi danh Di sản Thế giới sau khoảng 20 năm kể từ khi được đưa vào Danh sách dự kiến năm 2007.

Phiên thảo luận chuyên đề cho thấy, di sản đang được nhìn nhận như một nguồn lực cho phát triển khi được kết nối với cộng đồng, công nghệ, du lịch và công nghiệp văn hóa.
Từ bảo tồn đến số hóa và công nghiệp văn hóa
Từ kinh nghiệm của Nara, câu chuyện tại Bắc Ninh cho thấy một hướng tiếp cận khác: Không để di sản “đứng yên trong quá khứ”, mà từng bước hình thành chuỗi giá trị từ di sản.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bắc Ninh Mai Sơn nhấn mạnh: “Bảo tồn không phải là di sản đứng yên trong quá khứ. Phát triển không phải để di sản bị thương mại hóa đơn thuần.”
Theo đó, Bắc Ninh hướng tới bảo vệ tính xác thực, trao truyền giá trị, tạo ra những phương thức tiếp cận mới, hình thành các sản phẩm văn hóa có trách nhiệm, để cộng đồng được hưởng lợi và di sản có thêm nguồn lực tiếp tục tồn tại, phát huy.
Trong khi đó, Huế tập trung vào một hướng đi mang tính nền tảng: số hóa để bảo tồn, khai thác dữ liệu để tạo ra những giá trị mới.
Theo Phó Chủ tịch UBND TP. Huế Trần Hữu Thùy Giang, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã chuẩn hóa và số hóa hơn 1.400 bộ hồ sơ tư liệu di sản; số hóa ba chiều 207 cổ vật; gắn chip NFC cho 108 cổ vật phục vụ định danh, quản lý; bước đầu xây dựng dữ liệu mô hình thông tin công trình đối với Điện Thái Hòa; xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý khoảng 7.830 cây xanh và đưa vào hoạt động 96 điểm tương tác thông minh.
Đặc biệt, Huế đang đặt vấn đề chuyển từ “số hóa di sản” sang “kinh tế di sản số”. Theo đó, dữ liệu số, mô hình 3D, bộ dữ liệu hoa văn, nội dung lịch sử đã được xác thực hoặc các sản phẩm phái sinh được cấp phép có thể trở thành đầu vào cho giáo dục, thiết kế sáng tạo, công nghiệp văn hóa, du lịch và các dịch vụ số. Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi phải giải quyết đồng thời các vấn đề về quyền khai thác dữ liệu, định danh, định giá, cấp phép, sở hữu trí tuệ, đối soát doanh thu và chia sẻ lợi ích.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Huế Trần Hữu Thùy Giang (giữa) trình bày tham luận tại phiên thảo luận chuyên đề.
Mở rộng hợp tác để di sản tạo thêm giá trị
Một điểm chung được các đại biểu nhấn mạnh là công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được đặt trong một hệ sinh thái hợp tác, nơi chính quyền, cộng đồng, trường đại học, doanh nghiệp, nghệ nhân và các chủ thể sáng tạo cùng tham gia.
Đại diện JICA cho biết cách tiếp cận trong hợp tác với Việt Nam tập trung vào ba nội dung: Đồng sáng tạo, đổi mới sáng tạo và đưa các giải pháp được xây dựng trở lại phục vụ hai nước cũng như lan tỏa ra thế giới. Trong đó, việc kết nối công nghệ và kinh nghiệm của các địa phương Nhật Bản với người dân, địa phương Việt Nam đang tạo ra nhiều mô hình hợp tác cụ thể.
Câu chuyện hợp tác giữa làng Toho, tỉnh Fukuoka và làng Phù Lãng, Bắc Ninh là một ví dụ. Cùng có truyền thống sản xuất gốm lâu đời, hai địa phương hướng tới việc chuyển từ sản xuất số lượng lớn sang những sản phẩm có giá trị cao hơn, sử dụng ít tài nguyên hơn.
Thông qua hợp tác, các nghệ nhân Nhật Bản chuyển giao kỹ thuật để phát triển những sản phẩm gốm nhỏ nhưng có giá trị, qua đó gắn bảo vệ môi trường, kế thừa văn hóa truyền thống, phát triển nghề gốm, du lịch và giao lưu địa phương.
Tại Huế, hợp tác với Nhật Bản cũng mở rộng sang lĩnh vực môi trường. Với sự hỗ trợ của JICA, tỉnh Fukuoka phối hợp xây dựng sổ tay hướng dẫn vận hành, bảo trì khu xử lý chất thải theo “phương thức Fukuoka”. Thành phố Kyoto cũng đang chuẩn bị một dự án JICA liên quan đến giảm lượng rác thải và phân loại rác.
Trong lĩnh vực môi trường nước, các dự án hợp tác đã góp phần cải thiện hệ thống thoát nước và xử lý nước thải tại Huế. Những hoạt động này cho thấy bảo tồn di sản ngày nay không thể tách rời khỏi môi trường, du lịch, sinh kế và chất lượng sống của cộng đồng.
Tại Diễn đàn Hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản năm 2026, chuyên đề 1 đã tập trung trao đổi về xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển giao, ứng dụng công nghệ; ứng dụng AI, dữ liệu lớn, công nghệ xanh trong phát triển đô thị thông minh, bền vững và hướng tới trung hòa carbon.
Cùng ngày, Thứ trưởng Lê Anh Tuấn phát biểu bế mạc Diễn đàn, nhấn mạnh hai định hướng trọng tâm: phát huy dư địa từ quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện, mở rộng hợp tác địa phương trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp văn hóa và bảo tồn di sản; đồng thời chủ động đón đầu các xu thế mới, chuyển hóa cam kết thành những chương trình, dự án thiết thực, tạo không gian phát triển bền vững cho địa phương và doanh nghiệp hai nước. Diễn đàn khép lại, mở ra kỳ vọng về một chương mới trong hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản.


