Từ bình dân học vụ đến bình dân học vụ số

Lịch sử phát triển của đất nước ta có hai phong trào đặc biệt, ra đời cách nhau 80 năm nhưng có cùng tên, cùng ý nghĩa: Triển khai phổ cập giáo dục, xóa mù tri thức đến toàn dân. Đó là phong trào Bình dân học vụ năm 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; phong trào Bình dân học vụ số năm 2025 do Tổng Bí thư Tô Lâm lãnh đạo và Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát động.

Tìm hiểu những điểm tương đồng của hai phong trào, đặc biệt là những thành tích đã đạt được của Bình dân học vụ khi đất nước còn ở trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” sẽ giúp chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá để phát triển giáo dục nói riêng, phát triển đất nước nói chung hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với học sinh Trường Nghệ thuật Sân khấu Trung ương ở khu văn công Mai Dịch, Hà Nội, ngày 25.11.1961 Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với học sinh Trường Nghệ thuật Sân khấu Trung ương ở khu văn công Mai Dịch, Hà Nội, ngày 25.11.1961 Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh

1. Phong trào Bình dân học vụ - kỳ tích của ngành Giáo dục Việt Nam trong thế kỷ XX

Dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu học từ ngàn đời, nhưng đầu thế kỷ XX, dưới sự cai trị thâm độc, tàn bạo, đặc biệt là chính sách ngu dân, mị dân của thực dân Pháp và bè lũ tay sai, nạn mù chữ và thất học trở nên trầm trọng, 95% dân số không biết đọc, biết viết. Trước tình thế đó, ngay sau ngày độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động chiến dịch xóa nạn mù chữ, đồng thời ký hàng loạt sắc lệnh: Sắc lệnh số 17 đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt nam; Sắc lệnh số 19 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối; Sắc lệnh số 20 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền.

Để phục vụ chiến dịch, Nha Bình dân học vụ được thành lập ngày 18.9.1945. Khóa huấn luyện cán bộ Bình dân học vụ đầu tiên mang tên Hồ Chí Minh mở tại Hà Nội. Ngày 4.10.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời kêu gọi “Chống nạn thất học” gửi tới toàn thể quốc dân đồng bào: “… Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức, mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ… Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi”.

Bức thêu của nhân dân Khu Gia Viên, TP Hải Phòng kính tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Ngày Bình dân học vụ (8.9.1945 - 8.9.1955)

Bức thêu của nhân dân Khu Gia Viên, TP Hải Phòng kính tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Ngày Bình dân học vụ (8.9.1945 - 8.9.1955)

Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bình dân học vụ được nhóm lên, lan rộng, ăn sâu vào các thôn xóm và thực sự trở thành một phong trào toàn dân. Người học là những em bé, những cụ già, đặc biệt rất nhiều chị em phụ nữ. Giáo viên bình dân học vụ là thầy giáo ở các trường học, là cán bộ các ngành, là học sinh, bộ đội, là mọi tầng lớp nhân dân, từ những người đọc thông viết thạo đến những người vừa thoát nạn mù chữ. Lớp học là trụ sở của các trường phổ thông, các cơ quan chính quyền, doanh trại quân đội, nhà của tư nhân, đình, chùa, là những lán tre, lều nứa dựng tạm nơi bờ suối, góc bản, giữa chiến khu hay ngay trong các đô thị vừa giành độc lập… Nhiều nơi lá chuối, mo nang được đem dùng thay cho giấy; gạch non, sắn khô thay cho phấn viết; mặt đất, tường nhà, vách đá, lưng trâu… thay cho bảng đen. Khẩu hiệu giản dị “Diệt giặc dốt cũng như đánh giặc ngoại xâm” trở thành phương châm hành động, mệnh lệnh từ trái tim, khích lệ hàng triệu người dân tham gia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học của công nhân Nhà máy 1.5 (Hà Nội), lá cờ đầu của phong trào bổ túc văn hóa ngành công nghiệp, ngày 19.12.1963. Ảnh: TTXVN

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học của công nhân Nhà máy 1.5 (Hà Nội), lá cờ đầu của phong trào bổ túc văn hóa ngành công nghiệp, ngày 19.12.1963. Ảnh: TTXVN

Chỉ một năm sau ngày phát động, phong trào đã tổ chức được 75.000 lớp học với trên 95.000 giáo viên; trên 2,5 triệu người biết đọc, biết viết. Con số này năm 1948 là 6 triệu và năm 1952 là 10 triệu người. Đi đôi với việc diệt giặc dốt, việc bổ túc văn hóa để củng cố sự đọc thông, viết thạo của những người đã thoát nạn mù chữ được tổ chức và đẩy mạnh, trình độ văn hóa của cán bộ và nhân dân lao động cũng được nâng lên. Năm 1959, tất cả các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng trung du miền Bắc đều hoàn thành nhiệm vụ xóa mù chữ cho nhân dân ở độ tuổi 12-50. Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), các tỉnh miền núi phía Bắc đã xóa xong nạn mù chữ cho nhân dân các dân tộc thiểu số. Và đến tháng 2.1978, toàn bộ 21 tỉnh, thành ở miền Nam đã cơ bản thanh toán nạn mù chữ. Thành công của phong trào đã chứng minh rằng, khi cả dân tộc đồng lòng, kể cả trong điều kiện nghèo khó và chiến tranh thì chúng ta vẫn có thể làm nên kỳ tích. Đó chính là “bản anh hùng ca tri thức” của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.

Lớp bổ túc văn hóa cho công nhân trong các xí nghiệp ở Hà Nội sau ngày hòa bình lập lại, năm 1954. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Lớp bổ túc văn hóa cho công nhân trong các xí nghiệp ở Hà Nội sau ngày hòa bình lập lại, năm 1954. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Giấy chứng nhận Thanh toán nạn mù chữ. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Giấy chứng nhận Thanh toán nạn mù chữ. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

2. Phong trào Bình dân học vụ số - nền tảng của sự phát triển trong kỷ nguyên số

Bước sang thế kỷ XXI, đặc biệt là sau gần bốn thập kỷ Đổi mới, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi trên 16 của Việt Nam đạt tới trên 97%, trình độ dân trí đã phát triển hơn hẳn so với giai đoạn trước; tuy nhiên, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số toàn cầu, một hình thức “mù chữ mới” đã xuất hiện: Đó là sự thiếu hụt kỹ năng số, không biết sử dụng, hạn chế ngoại ngữ và kỹ năng hội nhập. Người dân tuy có thể đọc, viết chữ quốc ngữ nhưng nếu không làm chủ được máy tính, điện thoại thông minh hay Internet, họ vẫn bị loại trừ khỏi nhiều cơ hội

phát triển. Việc phổ cập kỹ năng số, “xóa mù” về chuyển đổi số không chỉ giúp người dân khai thác tốt lợi ích của công nghệ, mà còn góp phần nâng cao hiệu suất lao động, thúc đẩy sáng tạo và cải thiện chất lượng cuộc sống. Đây cũng là tiền đề quan trọng để xây dựng nguồn nhân lực số chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhấn mạnh: "Bình dân học vụ số phải trở thành phong trào cách mạng, toàn dân, toàn diện, bao trùm, sâu rộng". Ảnh: NHẬT BẮC

Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhấn mạnh: "Bình dân học vụ số phải trở thành phong trào cách mạng, toàn dân, toàn diện, bao trùm, sâu rộng". Ảnh: NHẬT BẮC

Dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm - Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng được nêu trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22.12.2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; và lấy cảm hứng từ phong trào Bình dân học vụ do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng năm 1945, phong trào Bình dân học vụ số do Thủ tướng Phạm Minh Chính phát động từ ngày 26.3.2025 mang trong mình sứ mệnh mới: Phổ cập kỹ năng số, giúp mọi người dân có thể tiếp cận, sử dụng và làm chủ công nghệ một cách hiệu quả, hướng tới hình thành thế hệ công dân số chủ động, sáng tạo, thích ứng linh hoạt với thời đại - những chủ nhân thực sự của xã hội số, quốc gia số, nền kinh tế số. Với phương châm “Kiến thức là nền tảng, công nghệ là công cụ để tiến xa”, phong trào chú trọng nâng cao nhận thức, khuyến khích từng cá nhân tự học, chủ động tham gia vào không gian số, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của đất nước.

Theo đó, thời gian qua, phong trào Bình dân học vụ số được triển khai với ba nền tảng. Đó là nền tảng học trực tuyến mở đại trà One Touch và nền tảng học trực tuyến mở đại trà MobiEdu đào tạo cho hơn 1,2 triệu lượt cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, đồng thời phổ cập kỹ năng số miễn phí cho hơn 40 triệu lượt người. Còn nền tảng Bình dân học vụ số đã đào tạo hơn 200.000 lượt cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang. Đây chính là nền tảng do Chính phủ chỉ đạo, chủ trương xây dựng để bất kỳ người dân nào cũng có thể tự học và nâng cao năng lực số. Trong những tháng đầu năm 2025, đã có hơn 1,3 triệu lượt thanh niên tham gia hỗ trợ người dân thực hiện các kỹ năng số.

Rất nhiều phong trào, mô hình hay ra đời ở các địa phương như: Phong trào “Mỗi công dân - Một danh tính số” thúc đẩy người dân kích hoạt tài khoản định danh VNeID và tích hợp thông tin cá nhân trên ứng dụng này; mô hình “Đại sứ số” là những cán bộ trẻ am hiểu công nghệ thường trực tại Trung tâm phục vụ hành chính công xã, phường, đóng vai trò như những “hướng dẫn viên số”, sẵn sàng hỗ trợ công dân thực hiện các thủ tục hành chính: Từ đăng ký tài khoản dịch vụ công quốc gia, nộp hồ sơ trực tuyến, đến cài đặt các ứng dụng số trên điện thoại, tích hợp sổ sức khỏe điện tử vào phần mềm VNeID; mô hình “Chợ số - Nông thôn số” giúp phụ nữ, tiểu thương và nông dân các địa phương có khả năng sử dụng thiết bị số, ứng dụng thanh toán điện tử, dịch vụ số, thương mại điện tử; mô hình “Tổ công nghệ số cộng đồng” với phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người”, hỗ trợ cài đặt ứng dụng, hướng dẫn sử dụng thiết bị, xử lý các vướng mắc về công nghệ, thiết lập nhóm mạng xã hội (zalo, facebook,…) để cập nhật thông tin, hỗ trợ kỹ thuật, tương tác thường xuyên với người dân, tổ chức các buổi tuyên truyền, tập huấn kỹ năng số cho người dân…; mô hình “Thanh niên chung tay phổ cập kỹ năng số”, “Phụ nữ giúp nhau chuyển đổi số”, “Gia đình số”, “Góc học tập số”, “Lớp học công nghệ cho người cao tuổi”, “Ngày hội số”, “Tháng tiêu dùng số”, “Ngày không tiền mặt”… Sự đa dạng, phong phú về mô hình đã giúp phong trào Bình dân học vụ số ở các địa phương phủ rộng mọi đối tượng, từ thành thị đến nông thôn, từ công sở, trường học đến từng hộ gia đình, tạo nên bức tranh chuyển đổi số sinh động trong đời sống.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu thực hiện nghi thức phát động phong trào “Bình dân học vụ số”. Ảnh: NHẬT BẮC

Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu thực hiện nghi thức phát động phong trào “Bình dân học vụ số”. Ảnh: NHẬT BẮC

3. Đánh giá những điểm tương đồng và bài học kinh nghiệm

Ra đời cách nhau tám thập kỷ, hai phong trào đều mang tên Bình dân học vụ với ý nghĩa phổ cập giáo dục tới toàn dân, nên có những điểm tương đồng thú vị.

Thứ nhất, hai phong trào đều ra đời trong những giai đoạn lịch sử có tính bước ngoặt với nhiều yêu cầu, nhiệm vụ rất mới, rất nặng nề. Ở thế kỷ trước, đó là kỷ nguyên độc lập, tự do được mở ra sau cách mạng Tháng Tám 1945 và nhiều nhiệm vụ bộn bề của chính phủ cách mạng non trẻ. Hiện nay là những mục tiêu phát triển rất cao mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII nêu ra (đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao) và vận hội phát triển mới của đất nước mà Tổng Bí thư gọi là “kỷ nguyên vươn mình”. Sự ra đời của hai phong trào trong những thời điểm lịch sử đặc biệt chứng tỏ: Giáo dục và nâng cao dân trí luôn được Đảng và Nhà nước xác định là động lực quan trọng, tạo ra cú hích cho sự phát triển.

Thứ hai, cả hai phong trào đều có điểm chung về nội dung, bản chất là xóa mù tri thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng chủ đạo coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Trước là xóa mù chữ, làm cho người dân biết đọc, biết viết, sau đó hướng tới giáo dục kiến thức phổ thông. Nay là phổ cập kiến thức, kỹ năng số, xóa mù công nghệ số, biến người dân thành công dân số. Do nhận thức tầm quan trọng đặc biệt của tri thức, của trình độ dân trí nên Hồ Chí Minh đã sớm nhận diện thứ đối lập với nó và gọi tên: “Giặc dốt”. Điều này thể hiện tư duy và tầm nhìn vượt trước của Người, bởi trong lịch sử nhân loại cả phương Đông và phương Tây có rất nhiều người đánh giá cao vai trò của giáo dục, nhưng Hồ Chí Minh là người đầu tiên và duy nhất gọi đích danh dốt nát là một loại giặc - thể hiện thái độ tuyên chiến quyết liệt, đấu tranh không khoan nhượng với nó.

Thứ ba, gắn với tên gọi “bình dân” nên đối tượng “xóa mù” là toàn dân, đặc biệt chú trọng tới những đối tượng yếu thế, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh “ai cũng được học hành” và “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Ở thế kỷ trước là phụ nữ, người già, người nông dân, công nhân, đồng bào dân tộc thiểu số… hiện nay là người cao tuổi, người công nhân, người dân ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là những người ít có điều kiện tiếp xúc với công nghệ… Đối tượng hướng tới của phong trào thể hiện quan điểm hết sức nhân văn của Đảng Cộng sản trong mọi chủ trương, chính sách phát triển - “không ai bị bỏ lại phía sau” và hướng tới thực hiện Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) của UNESCO: “Đảm bảo nền giáo dục công bằng, toàn diện, chất lượng và cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người”.

Thực tiễn triển khai và hiệu quả thực tế của hai phong trào cho thấy những bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác lãnh đạo, quản lý:

Một là, sự kế thừa này khẳng định rằng dù ở thời đại nào, việc nâng cao dân trí vẫn là chìa khóa cốt lõi để đưa đất nước phát triển “vươn mình” và sánh vai với các cường quốc. Điều này hoàn toàn phù hợp với tuyên bố của UNESCO: Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó. Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản.

Hai là, trách nhiệm “xóa mù” cho nhân dân, dù là xóa mù chữ truyền thống hay xóa mù công nghệ, phải được nhận thức sâu sắc rằng không chỉ là trách nhiệm của riêng ngành giáo dục, mà cần sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị; đi đôi với đó là khai thác tối đa sự sáng tạo, linh hoạt của tất cả các chủ thể. Theo đó, vai trò thầy - trò cũng cần được phát huy một cách sáng tạo với tất cả sự linh hoạt về đối tượng, thời gian, địa điểm, phương thức học tập… sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Ba là, gắn học với hành được coi là nguyên tắc then chốt. Việc dạy chữ, dạy công nghệ phải gắn liền với nhu cầu sản xuất, sinh kế và đời sống, để người học áp dụng được ngay, từ đó tạo động lực duy trì việc tự học và học tập suốt đời. Đồng thời, phải biến học tập trở thành nhu cầu tự thân của mỗi một người dân, chứ không chỉ là chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước áp đặt từ trên xuống. Do đó, các cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương cần đả thông tư tưởng, chỉ ra cho người dân thấy được lợi ích thiết thân của việc học tập tri thức, kiên quyết đấu tranh với căn bệnh lười học, lười đổi mới, tránh nguy cơ lạc hậu, thậm chí tụt hậu.

Từ Bình dân học vụ năm 1945 đến Bình dân học vụ số năm 2025 là sự tiếp nối hành trình khai mở dân trí bằng ánh sáng của thời đại - ánh sáng của khoa học công nghệ, của dữ liệu lớn, của trí tuệ nhân tạo, của công nghệ thông minh. Đó là hành trình không của riêng ai mà là của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, trong đó mỗi người dân vừa là chủ thể, vừa là người học vừa là người dạy, là người chia sẻ và cũng là người kiến tạo. Đó là hành trình tiếp nối đầy nhân văn và ý nghĩa, chứng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn đang đồng hành và soi đường cho dân tộc trong kỷ nguyên vươn mình.

PGS.TS LÂM QUỐC TUẤN - TS LÊ THỊ THÚY BÌNH, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/chinh-tri/tu-binh-dan-hoc-vu-den-binh-dan-hoc-vu-so-204919.html