Từ cột mốc 1.000 tỷ USD đến khát vọng vươn tầm của quốc gia

Con số 1.000 tỷ USD không chỉ nằm ở thứ hạng hay quy mô giao thương. Đằng sau đó là công sức của hàng trăm nghìn doanh nghiệp, hàng triệu người lao động, là quá trình cải cách thể chế, mở cửa thị trường và những nỗ lực bền bỉ của đất nước trong suốt chặng đường hội nhập.

Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD sau 10 tháng năm 2026.

Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD sau 10 tháng năm 2026.

Lần đầu tiên, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD, đánh dấu bước tiến mới sau gần 20 năm hội nhập. Tuy nhiên, đằng sau dấu mốc kỷ lục là yêu cầu chuyển từ tăng trưởng quy mô sang nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị nội địa và phát huy nội lực doanh nghiệp để khẳng định vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong chuyên mục Trò chuyện cuối tuần, PV Báo CAND đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Quốc Việt, Trưởng nhóm nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), về những cơ hội, thách thức và định hướng phát triển thương mại Việt Nam trong giai đoạn mới.

PV: Thưa ông, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam lần đầu tiên vượt 1.000 tỷ USD. Khi đón nhận thông tin này, cảm xúc của ông là gì? Ông cảm nhận thế nào về sự chuyển mình của nền kinh tế?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Đây thực sự là một dấu mốc đáng tự hào, không chỉ bởi quy mô kim ngạch mà còn bởi những gì nền kinh tế đã đi qua để đạt được kết quả này. Năm 2007, khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), kim ngạch xuất nhập khẩu mới vượt 100 tỷ USD. Gần 20 năm sau, quy mô thương mại đã tăng khoảng 10 lần. Đó là một bước tiến rất lớn đối với một nền kinh tế có xuất phát điểm còn nhiều khó khăn.

Điều khiến tôi ấn tượng hơn cả là tốc độ mở cửa, hội nhập và khả năng thích ứng của nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta đã chuyển mình mạnh mẽ từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, từng bước tham gia vào mạng lưới phân công lao động quốc tế, trở thành một điểm đến sản xuất và một mắt xích ngày càng quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo số liệu được công bố, năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt khoảng 929,92 tỷ USD. Đến ngày 29/10/2026, trị giá xuất nhập khẩu đã vượt mốc lịch sử 1.000 tỷ USD, trong khi năm vẫn còn hơn hai tháng mới kết thúc năm. Tốc độ tăng trưởng cao cho thấy sức bật đáng kể của hoạt động thương mại.

Việt Nam hiện đứng thứ 18 thế giới về xuất khẩu, thứ 20 về nhập khẩu và đứng thứ hai ASEAN về quy mô thương mại, sau Singapore. Đây là những kết quả có ý nghĩa, phản ánh vị thế ngày càng rõ nét của Việt Nam trên bản đồ kinh tế quốc tế.

Tuy nhiên, tôi cho rằng, niềm tự hào từ con số 1.000 tỷ USD không chỉ nằm ở thứ hạng hay quy mô giao thương. Đằng sau đó là công sức của hàng trăm nghìn doanh nghiệp, hàng triệu người lao động, là quá trình cải cách thể chế, mở cửa thị trường và những nỗ lực bền bỉ của đất nước trong suốt chặng đường hội nhập.

PV: Sự chuyển dịch nào trong cơ cấu xuất khẩu khiến ông ấn tượng nhất và cho thấy doanh nghiệp Việt đang trưởng thành hơn trên hành trình vươn ra thế giới?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Theo tôi, ấn tượng nhất là sự vươn lên của nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo, chiếm tới 90,4% tổng kim ngạch xuất khẩu. Điện tử, máy tính, linh kiện, máy móc và thiết bị đã trở thành những nhóm hàng chủ lực, cho thấy hàng Việt đang từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Theo số liệu Hải quan Mỹ, 7 tháng đầu năm 2026, nước này nhập khẩu khoảng 155 tỷ USD hàng hóa từ Việt Nam, gấp đôi cùng kỳ năm 2024. Đáng chú ý, mức tăng tập trung ở máy tính, linh kiện máy chủ và thiết bị mạng.

Ở lĩnh vực nông nghiệp, nhiều mặt hàng cũng chuyển từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và đáp ứng tiêu chuẩn xanh. Chẳng hạn, kim ngạch xuất khẩu cà phê tăng từ khoảng 5 tỷ USD năm 2024 lên 9 tỷ USD năm 2025. Việc chuẩn hóa vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và quy trình đóng gói cũng giúp nông sản Việt mở rộng thị trường.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng khu vực FDI vẫn đóng góp phần lớn kim ngạch xuất nhập khẩu. Đến ngày 29/10/2026, khu vực này đạt khoảng 778 tỷ USD, chiếm 77,5% tổng kim ngạch, trong khi doanh nghiệp trong nước đạt khoảng 223 tỷ USD.

Điều đó cho thấy doanh nghiệp Việt còn nhiều dư địa để nâng cao năng lực công nghệ, sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Gần 20 năm, quy mô thương mại của Việt Nam đã tăng gấp 10 lần.

Gần 20 năm, quy mô thương mại của Việt Nam đã tăng gấp 10 lần.

PV: Năm 2026, thương mại toàn cầu đối mặt nhiều biến động từ xung đột địa chính trị, giá năng lượng, rào cản thương mại đến sự dịch chuyển chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, đâu là những động lực giúp Việt Nam duy trì nhịp tăng trưởng mạnh mẽ?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Theo tôi, có ba động lực chính.

Thứ nhất là dòng vốn FDI và sự dịch chuyển sản xuất quốc tế. Chín tháng đầu năm 2026, vốn FDI đăng ký đạt 50,4 tỷ USD, tăng 76%; vốn giải ngân đạt 21,1 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm.

Tuy nhiên, thu hút FDI không chỉ dừng lại ở việc gia tăng quy mô vốn và kim ngạch xuất khẩu, mà quan trọng hơn là tạo sức lan tỏa đến khu vực doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp Việt nâng cao năng lực sản xuất, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và giữ lại nhiều giá trị gia tăng hơn cho nền kinh tế.

Thứ hai, mạng lưới 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) giúp hàng hóa Việt Nam tiếp cận nhiều thị trường với mức thuế ưu đãi, qua đó mở rộng dư địa xuất khẩu.

Thứ ba, là nỗ lực cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính và đẩy mạnh tạo thuận lợi thương mại. Ngành Hải quan cùng các cơ quan quản lý đã tăng cường số hóa quy trình, triển khai thông quan điện tử, áp dụng quản lý rủi ro, kết nối dữ liệu và thực hiện cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN. Cơ chế luồng xanh dành cho doanh nghiệp ưu tiên cũng góp phần rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu.

Tôi cho rằng, ba động lực này tạo sức bật cho thương mại Việt Nam. Tuy nhiên, để tăng trưởng bền vững, điều quan trọng là phải củng cố nội lực, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào dòng vốn FDI và nhu cầu thị trường quốc tế.



TS. Nguyễn Quốc Việt chia sẻ về những động lực giúp Việt Nam duy trì nhịp tăng trưởng mạnh mẽ.

TS. Nguyễn Quốc Việt chia sẻ về những động lực giúp Việt Nam duy trì nhịp tăng trưởng mạnh mẽ.

PV: Nhập khẩu tăng nhanh, cán cân thương mại có thời điểm chuyển sang nhập siêu. Đây có phải là điều đáng lo ngại, thưa ông?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Không nên xem nhập siêu trong một vài tháng là tín hiệu tiêu cực. Nếu nhập khẩu máy móc, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu thì đây là nguồn lực cần thiết cho tăng trưởng.

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là mức độ phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Nếu xuất khẩu tăng nhưng nguyên liệu, linh kiện chủ yếu vẫn phải nhập khẩu thì giá trị gia tăng giữ lại trong nước sẽ hạn chế.

Vì vậy, cần phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực nhà cung ứng nội địa và đa dạng hóa nguồn cung. Mục tiêu không chỉ là xuất khẩu nhiều hơn, mà còn phải gia tăng giá trị trong nước, nâng cao tính tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế, trước những biến động về logistics, năng lượng, giá nguyên liệu và chính sách thương mại.

Điện tử, máy tính, linh kiện, máy móc và thiết bị đã trở thành những nhóm hàng chủ lực của Việt Nam.

Điện tử, máy tính, linh kiện, máy móc và thiết bị đã trở thành những nhóm hàng chủ lực của Việt Nam.

PV: Mốc xuất khẩu 1.000 tỷ USD mở ra kỳ vọng mới cho thương mại Việt Nam, nhất là khi chúng ta hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Theo ông, cần thay đổi điều gì để xuất nhập khẩu thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng tăng trưởng?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Xuất nhập khẩu chắc chắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng GDP, tạo việc làm, mở rộng thị trường và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào kim ngạch thì chưa thể đánh giá đầy đủ hiệu quả của hoạt động thương mại.

Điều quan trọng hơn là lượng giá trị gia tăng được tạo ra trong nước, năng suất lao động, khả năng đổi mới công nghệ và mức độ tham gia của doanh nghiệp nội địa trong chuỗi giá trị.

Theo tôi, cần ưu tiên ba hướng.

Trước hết, nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước. Chúng ta cần tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn FDI, từ những sản phẩm, linh kiện đơn giản đến các công đoạn đòi hỏi trình độ công nghệ, kỹ thuật cao hơn. Muốn làm được điều này, doanh nghiệp phải được hỗ trợ tiếp cận vốn, công nghệ, thông tin thị trường, tiêu chuẩn sản xuất và nguồn nhân lực chất lượng.

Thứ hai, lựa chọn dòng vốn đầu tư có chất lượng. Không nên chỉ nhìn vào quy mô vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu dự kiến, mà cần quan tâm đến khả năng lan tỏa công nghệ, liên kết với doanh nghiệp nội địa, đào tạo lao động và đóng góp cho hệ sinh thái sản xuất.

Thứ ba, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao năng suất. Phát triển xuất khẩu cần gắn với nghiên cứu và phát triển, thiết kế, thương hiệu, logistics, tài chính, công nghệ số và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao.

Tôi cũng cho rằng, cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng xuất nhập khẩu rõ ràng hơn. Bên cạnh kim ngạch, nên theo dõi tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa, tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước, mức độ tham gia chuỗi cung ứng và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.

Đây mới là những chỉ báo cho thấy nền kinh tế đang thực sự mạnh lên từ bên trong.

Doanh nghiệp Việt còn nhiều dư địa để nâng cao năng lực công nghệ, sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Doanh nghiệp Việt còn nhiều dư địa để nâng cao năng lực công nghệ, sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

PV: Để đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15-16%/năm, nâng tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước lên 28-30% vào năm 2030, theo ông, đâu là những điều kiện quyết định?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Trước hết, cần cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách thủ tục, giảm chi phí và bảo đảm chính sách ổn định, minh bạch để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.

Cùng với đó, phải nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa, hỗ trợ đổi mới công nghệ, quản trị, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt cần đi vào thực chất, gắn với chuyển giao quy trình, đào tạo và phát triển nhà cung ứng.

Bên cạnh đa dạng hóa thị trường, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực tuân thủ quy tắc xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn xanh và phòng vệ thương mại.

Tăng trưởng xuất khẩu bền vững không chỉ là bán được nhiều hàng hơn, mà phải nâng cao chất lượng, thương hiệu, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Gần 20 năm, quy mô thương mại của Việt Nam đã tăng gấp 10 lần.

Gần 20 năm, quy mô thương mại của Việt Nam đã tăng gấp 10 lần.

PV: Nếu gửi một thông điệp tới cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam ở thời khắc đáng nhớ này, ông muốn nhắn nhủ điều gì? Ông kỳ vọng thế nào về bản lĩnh và sức vươn của doanh nghiệp Việt trên hành trình chinh phục những cột mốc mới?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Tôi muốn chia sẻ với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam bốn điều.

Thứ nhất, đừng chỉ đo giá trị kinh doanh bằng kim ngạch xuất nhập khẩu, hãy nhìn vào biên lợi nhuận, năng suất và phần giá trị thực sự giữ lại được trong nước. Một doanh nghiệp có thể xuất khẩu rất lớn nhưng nếu chỉ làm những công đoạn có giá trị thấp thì dư địa phát triển vẫn hạn chế.

Thứ hai, hãy coi minh bạch và tuân thủ là lợi thế cạnh tranh. Trong bối cảnh rào cản thương mại, các vụ việc điều tra xuất xứ và phòng vệ thương mại gia tăng, doanh nghiệp nào kiểm soát tốt chuỗi cung ứng, truy xuất được nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế sẽ có nhiều cơ hội hơn.

Thứ ba, hãy chủ động học cách trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn lớn đang đầu tư tại Việt Nam. Đó là con đường thiết thực để doanh nghiệp nội địa nâng cấp công nghệ, quản trị, chất lượng nhân lực và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ tư, cần nuôi dưỡng tinh thần dân tộc, khát vọng vươn lên cùng sự đầu tư thực chất cho công nghệ và con người. Khát vọng phải đi cùng năng lực, sự kiên trì và khả năng chấp nhận đầu tư dài hạn.

Tôi kỳ vọng một thế hệ doanh nghiệp Việt tự tin hơn, không chỉ tìm kiếm cơ hội gia công, mà còn dám nghiên cứu, thiết kế, sáng tạo sản phẩm và xây dựng thương hiệu riêng. Khi doanh nghiệp Việt lớn mạnh, năng lực nội sinh của nền kinh tế cũng sẽ được củng cố.

Mốc 1.000 tỷ USD là một dấu son đáng nhớ, nhưng không phải đích đến cuối cùng. Điều quan trọng là từ dấu mốc này, chúng ta có thể tạo ra một nền thương mại có chất lượng cao hơn, một cộng đồng doanh nghiệp có sức cạnh tranh mạnh hơn và một nền kinh tế tự chủ, bền vững hơn.

Tôi tin rằng, nếu tận dụng tốt cơ hội hội nhập, kiên trì cải cách và đầu tư cho nội lực, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để hướng tới những cột mốc mới, không chỉ về quy mô mà cả về chất lượng và vị thế trên bản đồ kinh tế toàn cầu.

PV: Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!

Lưu Hiệp (thực hiện)

Nguồn CAND: https://cand.vn/tu-cot-moc-1000-ty-usd-den-khat-vong-vuon-tam-cua-quoc-gia-post826448.html