Từ 'đối phó' sang 'quản trị': Bước chuyển căn bản tư duy bảo vệ môi trường
Kết luận số 75-KL/TW xác định quan điểm chuyển từ tư duy "đối phó thụ động" sang tư duy "ứng phó chủ động," từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và theo mức độ rủi ro...

Quản trị môi trường theo hướng hiện đại. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, tác động sâu rộng, nhiệm vụ bảo vệ môi trường không thể chỉ dừng ở xử lý vi phạm, khắc phục hậu quả, mà đòi hỏi một phương thức quản trị chủ động, hiện đại và đồng bộ hơn, tạo nền tảng cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Do vậy, Kết luận số 75-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới, đã yêu cầu phải chuyển từ tư duy “đối phó thụ động” sang “ứng phó chủ động;” lấy việc bảo đảm môi trường sống an toàn, trong lành, bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, sinh kế của mọi người dân làm mục tiêu cao nhất.
Từ khắc phục đến “chủ động từ sớm, từ xa”
Thực tế phát triển trong nhiều năm qua cho thấy, công tác bảo vệ môi trường chủ yếu được tiếp cận thông qua các biện pháp kiểm soát, xử lý ô nhiễm và khắc phục hậu quả sau khi vấn đề, sự cố phát sinh. Cách tiếp cận này có vai trò nhất định, nhưng ngày càng bộc lộ những giới hạn trước các thách thức môi trường có tính chất phức tạp và sức ảnh hưởng trên phạm vi rộng.
Điều đáng nói là, khi ô nhiễm đã tích tụ, hệ sinh thái suy thoái, thiên tai thường gây thiệt hại lớn, chi phí khắc phục thường rất cao, trong khi những tổn thất về sức khỏe, sinh kế và tài nguyên có thể kéo dài nhiều năm.
Bởi thế, trước yêu cầu phát triển xanh, phát triển bền vững, việc chuyển từ tư duy “đối phó thụ động” sang “ứng phó chủ động,” coi phòng ngừa, nhận diện sớm và kiểm soát rủi ro là trọng tâm của quản trị môi trường. Đây cũng là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển: Chủ động dự báo những nguy cơ có thể xảy ra, đánh giá sức chịu tải của môi trường, kiểm soát nguồn gây ô nhiễm từ đầu và tính toán đầy đủ các tác động sinh thái trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và quyết định đầu tư.

Đánh giá sức chịu tải của môi trường. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
Tinh thần ấy đã được thể hiện rõ trong Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới, do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành ngày 28/7/2026. Theo đó, bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong các quyết định phát triển, là điều kiện, nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất và sức cạnh tranh, đồng thời trở thành một trong những động lực thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, bền vững.
Quan điểm trên cũng cho thấy môi trường không còn được nhìn nhận như một khoản chi phí phải chấp nhận để đổi lấy tăng trưởng, càng không phải nhiệm vụ riêng của cơ quan chuyên ngành. Ngược lại, chất lượng môi trường, khả năng bảo vệ tài nguyên và sức chống chịu trước biến đổi khí hậu phải trở thành những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả phát triển.
Một dự án có thể tạo ra giá trị kinh tế trước mắt, nhưng nếu gây ô nhiễm kéo dài, làm suy giảm nguồn nước hoặc gia tăng rủi ro thiên tai thì những lợi ích ấy khó có thể được coi là bền vững.

Môi trường đang trở thành động lực phát triển mới của nền kinh tế. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
Từ phương diện cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường, Cục trưởng Cục Môi trường Tăng Thế Cường cho rằng, trong bối cảnh đất nước hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, môi trường đang trở thành động lực phát triển mới của nền kinh tế, là nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Chính vì thế, Kết luận số 75-KL/TW không chỉ thay đổi cách tiếp cận về bảo vệ môi trường, mà còn thể hiện sự đổi mới căn bản trong quan điểm phát triển, khi môi trường được nhìn nhận như nguồn lực và yếu tố kiến tạo sức cạnh tranh mới.
Tại Diễn đàn “Đối thoại Quy Nhơn về khí hậu và chuyển đổi” diễn ra mới đây, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên cũng nhấn mạnh, biến đổi khí hậu không còn là một vấn đề môi trường đơn lẻ, mà đang ngày càng liên quan đến các vấn đề về tăng trưởng kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, thương mại, chuỗi cung ứng và ổn định tài chính.
Với một nền kinh tế có độ mở cao, tham gia sâu vào thương mại như Việt Nam, chuyển đổi xanh vừa là yêu cầu tất yếu, vừa là cơ hội đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bởi vậy, việc chuyển sang ứng phó chủ động phải bắt đầu từ việc đặt con người và chất lượng cuộc sống của Nhân dân ở vị trí trung tâm; quy hoạch và phát triển trong giới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường. Mục tiêu đến năm 2030 được Kết luận số 75-KL/TW xác định là nâng cao năng lực quản trị môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai; kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải lớn, xử lý các khu vực ô nhiễm nghiêm trọng, cải thiện chất lượng môi trường sống và ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học. Tầm nhìn đến năm 2045 là xây dựng Việt Nam có môi trường sống trong lành, hài hòa với thiên nhiên, hệ thống quản trị môi trường hiện đại và khả năng thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Tầm nhìn đến năm 2045 là xây dựng Việt Nam có môi trường sống trong lành, hài hòa với thiên nhiên. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
Quản trị hiện đại, đồng bộ và dựa trên dữ liệu
Theo giới chuyên gia, trong bối cảnh các vấn đề môi trường ngày càng phức tạp, phương thức quản lý chủ yếu dựa trên hồ sơ, thủ tục, kiểm tra riêng lẻ và phạm vi trách nhiệm hành chính sẽ khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát hiện sớm, dự báo chính xác và kiểm soát hiệu quả các nguy cơ. Vì vậy, quản trị hiện đại về môi trường, đòi hỏi quyết định phải dựa trên dữ liệu tin cậy, đánh giá khoa học và mức độ rủi ro thực tế.
Thay vì chỉ tập trung kiểm tra, xử lý khi vi phạm đã xảy ra, cơ quan quản lý cần có khả năng nhận diện nguồn thải lớn, xác định khu vực nhạy cảm, dự báo nguy cơ vượt ngưỡng chịu tải và ưu tiên nguồn lực cho những vấn đề có khả năng gây hậu quả nghiêm trọng. Cách tiếp cận theo rủi ro không làm giảm yêu cầu tuân thủ pháp luật, mà giúp hoạt động quản lý có trọng tâm, nâng cao hiệu quả giám sát và sử dụng nguồn lực công hợp lý hơn.
Để làm được điều đó, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia có ý nghĩa then chốt. Dữ liệu về chất lượng không khí, nguồn nước, chất thải, phát thải và hiện trạng hệ sinh thái cần được kết nối, cập nhật và khai thác phục vụ công tác dự báo, cảnh báo, hoạch định chính sách cũng như giám sát thực thi. Khi thông tin được chuẩn hóa và chia sẻ giữa các cơ quan liên quan, những nguy cơ môi trường có thể được nhận diện sớm hơn; trách nhiệm quản lý cũng được xác định rõ ràng hơn, hạn chế tình trạng thiếu thông tin hoặc chậm phối hợp khi sự cố xảy ra.

Quản trị môi trường theo hướng tổng hợp, liên ngành, liên vùng. (Ảnh: Long Vũ/Vietnam+)
Một yêu cầu quan trọng khác là chuyển từ quản lý phân tán theo ngành, địa giới hành chính sang quản trị tổng hợp, liên ngành, liên vùng.
Thực tế, môi trường không vận hành theo ranh giới hành chính. Minh chứng là ô nhiễm trên một đoạn sông có thể ảnh hưởng đến nhiều địa phương; khí thải từ các nguồn khác nhau có thể cộng hưởng, làm suy giảm chất lượng không khí trên phạm vi rộng; biến đổi khí hậu có thể đồng thời tác động đến sản xuất nông nghiệp, nguồn nước, năng lượng và sinh kế cộng đồng. Vì vậy, nếu mỗi ngành, mỗi địa phương chỉ xử lý phần việc thuộc phạm vi của mình mà thiếu cơ chế phối hợp, nhiều vấn đề sẽ không được giải quyết tận gốc.
Kết luận số 75-KL/TW vì thế, đã đặt ra yêu cầu tăng cường kiểm soát nguồn ô nhiễm theo vùng, khu vực và tổng thải lượng chất ô nhiễm; đồng thời thúc đẩy quản trị tổng hợp, liên ngành, liên vùng. Điều đó đòi hỏi các cơ quan quản lý phải phối hợp từ khâu quy hoạch, xác định mục tiêu môi trường, phân bổ nguồn lực đến giám sát và đánh giá kết quả. Quản lý theo lưu vực, không gian môi trường cần được chú trọng hơn, đi cùng cơ chế chia sẻ dữ liệu, điều phối thống nhất giữa các địa phương, ngành, lĩnh vực.
Cùng với quản trị, huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, carbon thấp cũng là những điều kiện không thể thiếu. Bảo vệ môi trường chỉ có thể trở thành động lực phát triển khi doanh nghiệp có cơ chế khuyến khích đổi mới công nghệ, giảm phát thải; người dân có điều kiện thực hành lối sống xanh; cơ quan quản lý bảo đảm được tính minh bạch, hiệu quả trong thực thi.

Năng lực phòng ngừa rủi ro. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
Bởi thế, ngay sau khi Kết luận số 75-KL/TW được ban hành, Cục Môi trường đã khẩn trương tham mưu xây dựng các chương trình, kế hoạch triển khai ở các cấp, trong đó phân công trách nhiệm cho những cơ quan, đơn vị liên quan nhằm bảo đảm thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp. Đây là bước cụ thể hóa quan trọng, song hiệu quả cuối cùng phải được đo bằng những chuyển biến thực chất trong chất lượng môi trường, năng lực phòng ngừa rủi ro và mức độ an toàn của người dân.
Hiệu quả cuối cùng phải được đo bằng những chuyển biến thực chất trong chất lượng môi trường, năng lực phòng ngừa rủi ro và mức độ an toàn của người dân.
Bên cạnh thể chế và công nghệ, thay đổi hành vi xã hội cũng là một phần của quản trị môi trường hiện đại. Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên, các cơ quan, tổ chức, trường học, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư cần duy trì những hoạt động thiết thực như làm sạch đường phố, sông hồ, hạn chế nhựa dùng một lần và nhân rộng các mô hình xanh; đồng thời phân loại rác tại nguồn, tiết kiệm năng lượng và sử dụng tài nguyên có trách nhiệm cần trở thành thói quen thường xuyên.
Điều đó cũng nói lên rằng, thước đo của bước chuyển căn bản tư duy bảo vệ môi trường, không nằm ở số lượng văn bản hay kế hoạch được ban hành, mà ở khả năng ngăn ngừa ô nhiễm từ sớm, kiểm soát hiệu quả các nguồn thải, phục hồi hệ sinh thái và nâng cao sức chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Khi môi trường thực sự trở thành tiêu chí trung tâm của quyết định phát triển, quản trị theo hướng hiện đại, và trách nhiệm bảo vệ môi trường được chuyển hóa thành kết quả cụ thể, Việt Nam sẽ tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, vì chất lượng cuộc sống của Nhân dân hôm nay và các thế hệ mai sau./.

Bảo vệ môi trường cần trở thành thói quen thường xuyên. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
