Từ gió Lào đến gió biển: Một miền ký ức chung

Quảng Trị không chỉ là một tên gọi hành chính, mà trước hết là một cảm thức về đất và người được gợi ra qua khí hậu, nhịp gió, sắc cát, mùi muối, qua những thói quen sống kết tinh từ hàng trăm năm đối diện với khắc nghiệt. Đây là vùng đất liền một dải, thở cùng một miền gió. Nếu đèo Ngang là nơi miền đất này bắt đầu chịu gió, thì sông Ô Lâu là nơi học cách lắng mình. Giữa hai mốc giới ấy, Quảng Trị hiển thị như một dải thân phận: Luôn bị thử thách bởi thiên nhiên, luôn đứng giữa những ranh giới lớn của lịch sử, địa lý và văn hóa.

Gió Lào thổi qua Đồng Hới, vượt sông Gianh, men theo sông Bến Hải, quệt một đường nóng rát trên da thịt, rồi tan vào biển. Biển Nhật Lệ, Cửa Việt, Cửa Tùng lại gửi những luồng gió mặn ngược vào đất liền, xoa dịu, cân bằng, làm mềm đi sự khô khốc. Một đầu là gió nung nấu, một đầu là gió hồi sinh.

Và giữa hai luồng gió ấy, con người Quảng Trị đã sống, đã chịu đựng, đã bền bỉ mà thành hình và định danh. Khi đi vào phía Nam, đến vùng sông Ô Lâu-ranh giới tự nhiên giữa Quảng Trị và đất Huế, gió bắt đầu đổi giọng. Không còn gắt gỏng như gió Lào, cũng chưa lắng sâu như gió phá Tam Giang, mà ở một trạng thái lưng chừng: Chậm lại, dè dặt hơn, như biết mình đang đứng trước một miền văn hóa khác.

Chính ở ranh giới ấy, Quảng Trị bộc lộ rõ thế đứng của mình, không hòa tan vào Huế, nhưng cũng không khép kín; không mang vẻ cung đình, mà giữ lấy sự mộc mạc, chừng mực, một thứ tiết chế sinh ra từ va đập lâu đời với gió, với lịch sử, với chia cắt.

Tết ở vùng đất này chưa bao giờ là Tết của phô trương. Nó đến lặng lẽ, như một khoảng lặng hiếm hoi giữa hai mùa gió. Có những cái Tết mưa dầm gió bấc, có những cái Tết nắng hanh đến nứt nẻ mặt đất, nhưng Tết nào cũng mang theo một cảm thức chung: Được qua thêm một năm, là thêm một lần thắng gió. Người

Quảng Trị không ăn mừng bằng tiếng pháo lớn, mà bằng việc sửa lại mái nhà, vá thêm chiếc thuyền, dọn lại bàn thờ, chuẩn bị mâm cỗ vừa đủ. Đó là một lối sống tiết độ, sinh ra từ những tháng ngày thiếu thốn, và được giữ lại như một phẩm hạnh. Mâm cỗ ngày Tết có thể đơn sơ, nhưng mùi hương trầm quyện trong gió bấc là sợi dây kết nối giữa người đang sống và những người đã nằm lại dưới trùng trùng cát trắng, tạo nên một miền ký ức không bao giờ đứt đoạn.

Cửa biển, bãi tắm Nhật Lệ là những di sản văn hóa - lịch sử đã và đang trở thành một tài nguyên du lịch quý báu của phường Đồng Hới và tỉnh Quảng Trị - Ảnh: H.TR

Cửa biển, bãi tắm Nhật Lệ là những di sản văn hóa - lịch sử đã và đang trở thành một tài nguyên du lịch quý báu của phường Đồng Hới và tỉnh Quảng Trị - Ảnh: H.TR

Nhìn từ lịch sử, Quảng Trị từng là những tọa độ nặng nề của chia cắt và bom đạn. Sông Gianh từng là giới tuyến, sông Bến Hải từng hứng chịu “mưa đỏ”. Nhưng nếu chỉ nhìn bằng ký ức chiến tranh, thì chưa đủ. Điều đáng nói hơn là cách con người ở đây đi qua chiến tranh để trở lại làm người bình thường. Sau tiếng súng, họ trở về với biển, với ruộng, với con sông, với gió. Họ không dựng tượng đài trong từng câu chuyện đời thường, nhưng ký ức vẫn ở đó, an nhiên, bền bỉ, như lớp phù sa dưới đáy sông.

Tôi từng đứng ở Cửa Tùng một chiều cuối năm, gió biển thổi mạnh, sóng dựng trắng bờ. Biển mùa đông phơi bày tất cả: Sự mong manh của con thuyền, sự nhỏ bé của con người và cả lòng kiên nhẫn không nói ra của những người sống nhờ biển. Cũng thứ gió ấy, khi đi sâu vào đất liền, gặp cát nóng, gặp đồi trọc, lại biến thành gió Lào khắc nghiệt. Gió không đổi, chỉ là con người phải đổi cách đứng cho vững.

Có lẽ vì vậy mà người Quảng Trị không hẳn “ăn to nói lớn” như mặc định. Trên thực tế, họ nói chậm, làm nhiều, và ít khi than vãn. Sự chịu đựng ở đây không phải cam chịu, mà là một chiến lược sinh tồn có chiều sâu đạo lý. Chịu đựng để giữ lại những gì cốt lõi nhất: Gia đình, làng xóm, phong tục, và niềm tin rằng rồi gió cũng sẽ đổi chiều.

Năm Bính Ngọ mở ra - năm của dịch chuyển, của kiên gan bền chí, của sức kéo thầm lặng - hình ảnh con ngựa lại trở nên gần gũi với miền đất này hơn bao giờ hết. Con ngựa miền Trung không phải ngựa phi nước đại giữa thảo nguyên, mà là ngựa kéo nặng, đi chậm, nhưng không bỏ cuộc giữa đường. Trong ký ức vùng đất này, ngựa không đi vào hội hè mà đi vào lịch sử. Ngựa thồ, ngựa kéo, ngựa vượt Trường Sơn… Chúng không mang yên son, chỉ mang trên lưng gạo, muối, đạn dược và cả sự sống còn của con người. Chúng không được sinh ra để hí vang, mà để cắm đầu đi qua gió, qua cát, qua lửa, qua đói nghèo. Chúng mang trên lưng không phải vinh quang, mà là phần nặng nhất của đời sống. Chúng không cần trảng cỏ xanh mướt, chỉ cần một điểm tựa dưới móng chân để rướn mình về phía trước.

Cũng như người Quảng Trị, không chọn đường dễ, chỉ chọn đường cần đi, tận tụy thồ trên lưng cả một gia tài văn hóa và lịch sử qua những mùa gió lửa. Tết, suy cho cùng, không phải để quên đi gió cát, mà để học cách tiếp tục sống cùng gió cát. Một miền đất đã quen với nắng lửa và mưa dầm, khi bước sang năm mới, không cầu mong điều gì quá xa xôi. Chỉ mong biển yên hơn một chút, gió dịu hơn một chút, cồn cát bớt chang chang một chút và con người được bình an hơn một chút trong chính cuộc đời mình.

Từ gió lào đến gió biển, quảng trị liền một dải đang tiếp tục kể câu chuyện về ký ức và dự phòng chung của một vùng đất, một vùng văn hóa. kể một cách chậm rãi, kiên nhẫn, miên viễn. và có lẽ, chính trong sự khiêm hạ ấy, miền đất này đã dạy cho chúng ta một bài học quan trọng nhất để bước vào năm mới: đi chậm, đứng vững và luôn được là chính mình.

Hoàng Đăng Khoa

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/dat-va-nguoi-quang-tri/202602/tu-gio-lao-den-gio-bien-mot-mien-ky-uc-chung-3724a74/