Từ năm 2030, yêu cầu tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ cao hơn
Ngày 30/9, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư quy định Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, trong đó nâng yêu cầu về tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ từ năm 2030, đồng thời đặt ra các tiêu chuẩn cụ thể về tổ chức, quản trị, cơ sở vật chất, tài chính, tuyển sinh - đào tạo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Giảng viên Trường Đại học Kinh tế (Đại học Huế) bảo vệ luận văn Tiến sĩ tại trường Tsukuba (Nhật Bản). Ảnh: TTXVN phát
Theo Thông tư, Chuẩn cơ sở giáo dục đại học là tập hợp các yêu cầu tối thiểu về điều kiện bảo đảm chất lượng và chỉ số hoạt động, được áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống giáo dục đại học, trừ một số trường hợp được áp dụng một phần hoặc không áp dụng theo quy định. Kết quả đánh giá được sử dụng làm nguồn thông tin, căn cứ phục vụ quản lý nhà nước, đồng thời là cơ sở để các trường tự đánh giá, giám sát và thực hiện trách nhiệm giải trình.
Thông tư quy định 6 tiêu chuẩn gồm: Tổ chức và quản trị; giảng viên; cơ sở vật chất, học liệu và hạ tầng số; tài chính; tuyển sinh và đào tạo; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong đó, đối với đội ngũ giảng viên, tỷ lệ người học quy đổi trên giảng viên quy đổi không được lớn hơn 40; tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động trên tổng số giảng viên không thấp hơn 70%.
Đáng chú ý, cơ sở giáo dục đại học không đào tạo tiến sĩ phải có tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ không thấp hơn 20% và từ năm 2030 không thấp hơn 30%. Đối với cơ sở giáo dục đại học có đào tạo tiến sĩ, tỷ lệ này lần lượt là 40% và từ năm 2030 tăng lên 50%. Các trường đào tạo ngành đặc thù được áp dụng mức riêng.
Về cơ sở vật chất, từ năm 2030, diện tích đất quy đổi bình quân trên một người học chính quy quy đổi không nhỏ hơn 25 m2. Diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo phải đạt ít nhất 2,8 m2/người học; ít nhất 70% giảng viên cơ hữu được bảo đảm chỗ làm việc riêng biệt. Hệ thống quản lý học tập trực tuyến phải đáp ứng 100% chức năng và yêu cầu tối thiểu theo quy định.
Ở tiêu chuẩn tuyển sinh và đào tạo, tỷ lệ nhập học so với số lượng tuyển sinh công bố, tính trung bình trong 3 năm gần nhất, phải đạt ít nhất 50%; quy mô đào tạo không sụt giảm quá 30% so với 3 năm trước, trừ một số trường hợp được quy định.
Tỷ lệ thôi học trong năm không được cao hơn 10%, riêng người học năm đầu tiên không cao hơn 15%. Tỷ lệ tốt nghiệp trong thời gian không vượt quá 1,5 lần thời gian đào tạo chuẩn phải đạt ít nhất 60%; tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn không thấp hơn 40%.
Thông tư cũng quy định tỷ lệ người tốt nghiệp đại học có việc làm phù hợp với trình độ chuyên môn được đào tạo, tự tạo việc làm, học tiếp trình độ cao hơn hoặc thực hiện hoạt động thực hành bắt buộc để đáp ứng điều kiện hành nghề trong vòng 12 tháng sau tốt nghiệp phải đạt ít nhất 70%.
Đối với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ phải có tỷ trọng thu từ các hoạt động này trên tổng thu, tính trung bình 3 năm gần nhất, không thấp hơn 5%. Kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bình quân trên một giảng viên quy đổi không thấp hơn 0,3 sản phẩm/năm; đối với cơ sở có đào tạo tiến sĩ không phải trường đào tạo ngành đặc thù, mức này là 0,6 sản phẩm quy đổi/năm.
Một điểm đáng chú ý là việc đánh giá chuẩn được gắn chặt với dữ liệu số. Dữ liệu phục vụ đánh giá được cập nhật trên Hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục đại học (HEMIS), phải bảo đảm đầy đủ, chính xác, khách quan và có khả năng kiểm chứng.
Cơ sở đào tạo chỉ được đánh giá đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học khi tất cả tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số thuộc phạm vi áp dụng đều đạt. Trường hợp kê khai không trung thực hoặc giả mạo dữ liệu sẽ bị đánh giá không đáp ứng chuẩn và xử lý theo quy định của pháp luật.
Các cơ sở đào tạo thực hiện tự đánh giá hằng năm, công bố kết quả trước ngày 31/5; Bộ Giáo dục và Đào tạo thông báo kết quả đánh giá trước ngày 30/6 hằng năm. Kỳ đánh giá đầu tiên theo Thông tư được thực hiện đối với năm dữ liệu 2026.


