Từ sân bay, cảng biển đến trung tâm dữ liệu: Đừng để khát vọng địa phương làm mờ lợi thế quốc gia
Một sân bay chỉ thực sự có ý nghĩa khi không là ước mơ riêng của địa phương mà là mắt xích cần thiết trong năng lực kết nối của quốc gia. Một cảng biển chỉ thực sự có ý nghĩa khi làm cho hàng hóa của doanh nghiệp đi nhanh, rẻ và chắc chắn hơn.
Tôi có gần 25 năm công tác trong ngành giao thông vận tải, hàng không dân dụng và logistics. Khi đọc phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài diễn ra mới đây, rằng "không thể để địa phương nào cũng chạy theo cùng một loại dự án, nơi nào cũng muốn làm cảng biển, sân bay, trung tâm dữ liệu hay khu công nghệ cao mà không dựa trên quy hoạch, nguồn lực, hạ tầng và lợi thế so sánh", tôi chợt hiểu vấn đề ở một tầng ý nghĩa lớn hơn rất nhiều.
Đó không chỉ là câu chuyện về quy hoạch hạ tầng mà còn là câu chuyện về cách chúng ta đánh giá giá trị thật của một công trình trong giai đoạn phát triển mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài diễn ra ngày 30/6. Ảnh: QH
Một sân bay hôm nay không còn được đo chủ yếu bằng công suất thiết kế, số lượng hành khách có thể thông qua hay số tàu bay có thể tiếp nhận mà bằng năng lực kết nối của nó với nền kinh tế phía sau.
Điều đó cũng đúng với một cảng biển, một trung tâm dữ liệu, một khu công nghệ cao hay một tuyến cao tốc. Một công trình lớn nếu đứng đơn lẻ có thể tạo ra hình ảnh rất đẹp nhưng giá trị kinh tế của nó chỉ thực sự xuất hiện khi nó trở thành một mắt xích trong mạng lưới phát triển quốc gia. Nói cách khác, điều quan trọng không phải là địa phương nào có công trình gì mà là công trình ấy giúp quốc gia vận hành hiệu quả hơn như thế nào.
Tâm lý muốn có sân bay, cảng biển, trung tâm dữ liệu hay khu công nghệ cao của các địa phương là điều có thể hiểu được. Không địa phương nào muốn đứng ngoài dòng chảy phát triển, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng quyết liệt. Nhưng nếu khát vọng ấy không được đặt trong quy hoạch tổng thể, lợi thế so sánh và khả năng liên kết vùng, nó rất dễ chuyển từ động lực phát triển thành sự dàn trải nguồn lực.
Trong lĩnh vực hàng không, điều này thể hiện rất rõ. Một sân bay không tự thân tạo ra tăng trưởng nếu xung quanh nó thiếu cao tốc, đường sắt, đô thị dịch vụ, khu công nghiệp, trung tâm logistics và hệ sinh thái doanh nghiệp. Một cảng hàng không nếu chỉ có nhà ga đẹp nhưng hành khách mất quá nhiều thời gian để vào trung tâm đô thị, hàng hóa mất quá lâu để đến khu công nghiệp hoặc cảng biển, thì giá trị kết nối của sân bay ấy sẽ bị giảm đi đáng kể.
Không phát triển hạ tầng theo tâm lý “mỗi nơi một công trình biểu tượng”
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các quốc gia thành công không phát triển hạ tầng theo tâm lý “mỗi nơi một công trình biểu tượng”.
Singapore không làm nên vị thế logistics của mình chỉ nhờ sân bay Changi đẹp và hiện đại mà nhờ Changi nằm trong một hệ sinh thái kết nối rất chặt giữa hàng không, cảng biển, khu thương mại tự do, hải quan điện tử, dịch vụ tài chính và logistics giá trị cao. Changi thành công không chỉ vì vận chuyển hành khách tốt mà vì nó góp phần làm cho Singapore trở thành một điểm trung chuyển hàng hóa, vốn, con người và tri thức của khu vực.
Hàn Quốc cũng là một ví dụ đáng suy ngẫm. Incheon không được xây như một sân bay riêng lẻ để phục vụ một địa phương mà được đặt trong một cấu trúc phát triển rộng hơn, gắn với khu kinh tế tự do, thành phố thông minh Songdo, cảng biển, dịch vụ quốc tế và năng lực kết nối vùng thủ đô Seoul. Nhờ cách tiếp cận ấy, sân bay không chỉ là nơi máy bay cất hạ cánh, mà trở thành hạt nhân của một vùng kinh tế mới.
Hà Lan lại cho thấy một bài học khác về sức mạnh của phân vai và kết nối. Rotterdam là cảng biển lớn của châu Âu, Schiphol là một trong những cửa ngõ hàng không quan trọng, nhưng giá trị của Hà Lan không nằm ở việc mỗi đô thị đều có một cảng hay một sân bay lớn. Giá trị nằm ở mạng lưới đường sắt, đường thủy nội địa, kho vận, dịch vụ logistics và nền tảng quản trị cho phép hàng hóa đi vào châu Âu nhanh, ổn định và có thể dự báo.
Dubai cũng không trở thành trung tâm logistics chỉ bằng cách xây những công trình khổng lồ. Điều đáng chú ý ở Dubai là cách họ kết nối Jebel Ali Port, Jebel Ali Free Zone, Al Maktoum International Airport và Dubai South thành một hành lang logistics thống nhất. Ở đó, cảng biển, sân bay, khu tự do và đô thị dịch vụ không cạnh tranh vai trò với nhau, mà cùng tạo thành một chuỗi giá trị phục vụ thương mại toàn cầu.
Trung Quốc trong nhiều năm qua cũng phát triển hạ tầng theo hướng phân tầng và phân vai rất rõ. Không phải địa phương nào cũng được định vị như một trung tâm hàng không quốc tế và không phải sân bay nào cũng mang cùng một chức năng. Các đô thị lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thâm Quyến được kết nối với đường sắt tốc độ cao, cao tốc, cảng cạn và các hành lang công nghiệp, qua đó tạo ra mạng lưới vận tải có quy mô lớn nhưng vẫn có trật tự chức năng.
Để khát vọng đi đúng hướng hơn, bền vững hơn, trách nhiệm hơn với nguồn lực quốc gia
Từ những kinh nghiệm ấy, có thể thấy phát biểu của Tổng Bí thư là lời nhắc để khát vọng phát triển của các địa phương đi đúng hướng hơn, bền vững hơn và có trách nhiệm hơn với nguồn lực quốc gia. Một địa phương không nhất thiết phải có sân bay riêng mới là phát triển, nhưng địa phương ấy cần có khả năng tiếp cận sân bay hiệu quả, có kết nối logistics tốt và có vị trí rõ ràng trong chuỗi giá trị vùng.
Cách đặt vấn đề vì vậy cần chuyển từ “địa phương mình muốn có gì” sang “quốc gia cần địa phương mình đóng vai trò gì”.
Có địa phương phù hợp làm trung tâm công nghiệp, có địa phương phù hợp làm cửa ngõ du lịch, có địa phương phù hợp phát triển logistics, có địa phương phù hợp cho nông nghiệp công nghệ cao, và cũng có địa phương nên tập trung vào nguồn nhân lực, đô thị dịch vụ hoặc kinh tế sinh thái. Nếu tất cả cùng chạy theo một mô hình giống nhau, lợi thế riêng sẽ bị làm mờ và nguồn lực chung sẽ bị phân tán.
Với sân bay, câu hỏi quan trọng không phải là tỉnh nào có sân bay mà là sân bay ấy phục vụ vùng nào, kết nối với những trung tâm kinh tế nào và tạo ra giá trị gì ngoài hàng rào sân bay. Với cảng biển, câu hỏi không phải chỉ là công suất bốc xếp bao nhiêu tấn hàng, mà là cảng ấy có giúp giảm chi phí logistics, rút ngắn thời gian vận chuyển và nâng cao năng lực xuất nhập khẩu của doanh nghiệp hay không. Với trung tâm dữ liệu, câu hỏi không chỉ là diện tích sàn, số máy chủ hay mức đầu tư, mà là nguồn điện có ổn định không, năng lượng có sạch không, nhân lực có đủ không và hệ sinh thái số phía sau có phát triển không.
Đây cũng là một thay đổi rất quan trọng trong tư duy thu hút đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư thế hệ mới không chỉ nhìn vào đất rẻ, lao động rẻ hay ưu đãi thuế. Họ nhìn vào điện ổn định, năng lượng sạch, hạ tầng số, cảng biển, sân bay, đường sắt, chất lượng nhân lực, khả năng bảo vệ sở hữu trí tuệ và độ tin cậy của chính sách.
Vì vậy, nếu một địa phương muốn thu hút trung tâm dữ liệu nhưng chưa có nguồn điện ổn định và năng lượng sạch, mong muốn đó sẽ rất khó đi xa. Nếu một địa phương muốn làm khu công nghệ cao nhưng thiếu đại học, thiếu viện nghiên cứu, thiếu nguồn nhân lực kỹ thuật và thiếu doanh nghiệp phụ trợ, khu công nghệ cao đó dễ trở thành một cái tên đẹp hơn là một hệ sinh thái thực chất. Nếu một địa phương muốn có sân bay nhưng không có thị trường đủ lớn, không có kết nối vùng và không có vai trò rõ ràng trong mạng lưới hàng không quốc gia, sân bay ấy rất dễ trở thành gánh nặng vận hành.
Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta không cần những công trình lớn. Việt Nam đang ở giai đoạn rất cần hạ tầng lớn, từ cao tốc Bắc - Nam, sân bay Long Thành, các cảng biển nước sâu, đường sắt tốc độ cao cho đến hạ tầng năng lượng và dữ liệu. Nhưng càng cần công trình lớn, chúng ta càng phải có kỷ luật phát triển lớn hơn, bởi một siêu công trình chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó giải quyết một điểm nghẽn quốc gia chứ không chỉ thỏa mãn mong muốn địa phương.

Nhà ga hành khách sân bay Long Thành với giá trị hợp đồng khoảng 35.000 tỷ đồng. Công trình được thiết kế với quy mô 1 trệt và 3 lầu, tổng diện tích sàn hơn 376.000m2. Khi hoàn thành, nhà ga có khả năng phục vụ khoảng 25 triệu lượt hành khách mỗi năm. Ảnh: Hoàng Anh
Long Thành, nếu được kết nối tốt với cao tốc, đường vành đai, cảng biển và đường sắt, có thể trở thành hạt nhân của một hệ sinh thái logistics hàng không và công nghiệp công nghệ cao ở vùng Đông Nam Bộ. Gia Bình, nếu được đặt đúng trong không gian phát triển của miền Bắc, có thể gắn với công nghiệp thế hệ mới, đổi mới sáng tạo và hạ tầng số. Phú Quốc, nếu đi theo mô hình dịch vụ quốc tế chất lượng cao, có thể trở thành một cực thu hút con người, dòng vốn và các hoạt động kinh tế mới thay vì chỉ là điểm đến du lịch thông thường.
Điều quan trọng là các công trình ấy không nên được nhìn như những “ngôi sao riêng lẻ”. Chúng cần được đặt vào một bầu trời chung của quy hoạch quốc gia. Trong đó, mỗi nơi có vị trí, chức năng và quỹ đạo phát triển riêng. Khi đó, Long Thành không phải để địa phương này hơn địa phương khác, Gia Bình không phải để cạnh tranh hình thức với Nội Bài, và Phú Quốc không phải để lặp lại mô hình của bất cứ đô thị du lịch nào.
Ở tầng sâu hơn, chỉ đạo của Tổng Bí thư còn gợi ra một vấn đề về quản trị nguồn lực.
Đất đai, vốn đầu tư công, nhân lực chất lượng cao, năng lượng sạch và niềm tin chính sách đều là những nguồn lực hữu hạn. Nếu phân bổ theo phong trào, chúng ta có thể có thêm nhiều công trình nhưng không chắc có thêm nhiều giá trị.
Một sân bay chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó không phải ước mơ riêng của một địa phương mà là mắt xích cần thiết trong năng lực kết nối của cả quốc gia. Một cảng biển chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó làm cho hàng hóa của doanh nghiệp đi nhanh hơn, rẻ hơn và chắc chắn hơn. Một trung tâm dữ liệu chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng năng lực số của nền kinh tế, thay vì chỉ là một dự án tiêu thụ rất nhiều điện trên danh nghĩa công nghệ cao.
Cách đây gần 80 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Giao thông là mạch máu của tổ chức. Giao thông tốt thì mọi việc dễ dàng. Giao thông xấu thì các việc đình trệ” (trích từ thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cán bộ ngành Giao thông Công chính vào tháng 9/1945). Đến hôm nay, khi nền kinh tế đã đi vào những lĩnh vực mới như trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, logistics số và khu công nghệ cao, tinh thần ấy vẫn còn nguyên giá trị. Một cơ thể kinh tế không khỏe lên vì có thật nhiều trái tim, mà khỏe lên khi các mạch máu được kết nối hợp lý và vận hành thông suốt.
Vì vậy, điều cần làm không phải là làm nguội đi khát vọng phát triển của các địa phương. Điều cần làm là đặt khát vọng ấy vào đúng lợi thế, đúng quy hoạch và đúng vai trò trong mạng lưới quốc gia. Khi mỗi địa phương biết mình mạnh ở đâu và cần kết nối với ai, khi mỗi công trình được xây để phục vụ một chiến lược chung chứ không chỉ để tạo dấu ấn riêng, khi ấy hạ tầng mới thật sự trở thành nền tảng cho một Việt Nam cạnh tranh hơn, tự chủ hơn và phát triển bền vững hơn.










