Từ sứ mệnh lịch sử đến động lực phát triển trong kỷ nguyên mới
Từ những bài học lịch sử, đặc biệt là 40 năm Đổi mới, Việt Nam đang tạo dựng những động lực mới, hướng tới hai dấu mốc 100 năm vào năm 2030 và 2045.

Các cảng tại Thành phố Hồ Chí Minh luôn tấp nập các tàu làm hàng. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)
Nhìn lại chặng đường gần một thế kỷ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng không chỉ là ôn lại quá khứ, mà còn là sự chiêm nghiệm về hành trình đấu tranh, kiến tạo và phát triển của dân tộc.
Từ những bài học lịch sử, đặc biệt là 40 năm Đổi mới, Việt Nam đang tạo dựng những động lực mới, hướng tới hai dấu mốc 100 năm vào năm 2030 và 2045.
Sức mạnh bắt nguồn từ dân tộc và nhân dân
Theo Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, việc tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam trước hết cần làm rõ một vấn đề có ý nghĩa căn cốt: đâu là nguồn sức mạnh giúp đất nước vượt qua những thời điểm khó khăn, thậm chí có lúc đứng trước những thử thách mang tính sống còn.
Đề án tổng kết 100 năm lịch sử Đảng được ông nhìn nhận là một ý tưởng lớn, có tầm nhìn xuyên thế kỷ. Điều cần được lý giải không chỉ là những thành tựu đã đạt được, mà quan trọng hơn là tìm ra cội nguồn sức mạnh giúp Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn để có được vị thế ngày hôm nay.
Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Vũ Minh Giang cho rằng sợi chỉ đỏ xuyên suốt bắt nguồn từ chính mục tiêu khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là vì dân tộc Việt Nam, trước hết nhằm giải phóng dân tộc, giành độc lập và hướng tới xây dựng một quốc gia hùng cường.

Lắp ráp các sản phẩm điện tử tại Nhà máy Trung Nam EMS, Khu Công nghệ cao Đà Nẵng. (Ảnh: Mỹ Hà/TTXVN)
Từ mục tiêu đó, một trong những bài học nổi bật được thực tiễn lịch sử khẳng định là biết phát huy sức mạnh bên trong của dân tộc, đồng thời vận dụng tối đa sức mạnh của thời đại. Sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại đã giúp đất nước vượt qua nhiều hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Có những thời điểm thử thách ở mức hiểm nghèo, song Việt Nam vẫn từng bước vượt qua, trở thành một quốc gia ngày càng vững mạnh, có vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao.
Nhìn từ góc độ đó, tổng kết lịch sử không thể chỉ dừng lại ở việc ghi nhận những gì đã làm được. Những gì đã diễn ra cần được đúc kết thành bài học kinh nghiệm để nhìn nhận đúng thực tiễn, xử lý những vấn đề của hiện tại và dự báo những vấn đề có thể đặt ra trong tương lai.
Tổng kết chặng đường 100 năm vì thế vừa giúp nhìn lại những thành tựu đã đạt được, vừa giúp nhận diện rõ hơn sức mạnh nội tại, từ đó tìm ra những định hướng cho đất nước trong kỷ nguyên mới.
Điều này càng có ý nghĩa khi Việt Nam đang hướng tới hai dấu mốc phát triển quan trọng vào năm 2030 và năm 2045. Để những mục tiêu đó trở thành hiện thực, bài học lịch sử phải được chuyển hóa thành động lực và năng lực giải quyết những vấn đề đang đặt ra.
Theo Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Vũ Minh Giang, mục đích quan trọng của tổng kết không chỉ là khơi dậy niềm tự hào, sự tự tin từ những thành tựu đã đạt được, mà quan trọng hơn là tìm ra những bí quyết của thành công, những bài học cần tiếp tục phát huy để tạo thêm sức mạnh đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Trong những bài học ấy, điều có giá trị xuyên suốt vẫn là dựa vào sức mạnh của dân tộc, đặt lợi ích của đất nước và lợi ích của nhân dân ở vị trí trung tâm. Đây không phải là bài học chỉ có ý nghĩa đối với một giai đoạn lịch sử, mà tiếp tục mang giá trị trong quá trình phát triển hiện nay.
Từ thực tiễn lịch sử, nguyên tắc ấy được thể hiện rất giản dị: những gì có lợi cho dân thì kiên quyết làm, những gì không có lợi cho dân thì kiên quyết tránh. Đó cũng là cách để những bài học của lịch sử tiếp tục trở thành điểm tựa cho những bước đi của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.
Lựa chọn mô hình phát triển mới cho một giai đoạn mới

Tòa nhà ICT tại Khu Công viên phần mềm số 2 (phường Hải Châu) được thành phố Đà Nẵng nghiên cứu khai thác, tổ chức hoạt động Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)
Nếu lịch sử cung cấp những bài học về nguồn sức mạnh và cách lựa chọn con đường phát triển, thì yêu cầu đặt ra hiện nay là chuyển những bài học ấy thành động lực thực tế, lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với điều kiện mới và những mục tiêu mà đất nước đang hướng tới.
Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Hồng Tung, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn), Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng mỗi khi bước vào một giai đoạn mới, việc xác định đúng mô hình phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tương lai của một quốc gia, dân tộc.
Nhìn lại lịch sử Việt Nam, sau khi giành lại độc lập từ thời kỳ Bắc thuộc, cha ông đã trải qua một quá trình lâu dài để lựa chọn và định hình mô hình phát triển.
Quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La-Thăng Long dưới thời Lý không đơn thuần là sự thay đổi kinh đô, mà còn thể hiện tầm nhìn kiến tạo một trung tâm phát triển lâu dài của đất nước.
Đến thế kỷ XV, sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, yêu cầu xây dựng mô hình quản trị phù hợp tiếp tục được đặt ra và từng bước hoàn thiện dưới thời Lê sơ.
Ở chiều ngược lại, lịch sử cũng cho thấy khi một mô hình phát triển đi đến giới hạn mà không kịp thời thay đổi, đất nước có thể rơi vào bế tắc. Nửa sau thế kỷ XIX là một minh chứng, khi mô hình nhà nước quân chủ truyền thống không còn đủ khả năng thích ứng trước những biến đổi lớn của thời đại; những hạn chế về giáo dục, tri thức và nền kinh tế tiểu nông trở thành lực cản đối với sự phát triển.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Tung, những kinh nghiệm đó cho thấy việc lựa chọn mô hình phát triển không phải vấn đề lý thuyết đơn thuần mà có thể tác động trực tiếp đến vận mệnh của đất nước.
Mỗi giai đoạn đều đặt ra yêu cầu nhận diện những giới hạn của mô hình hiện hữu để có sự điều chỉnh, thay đổi phù hợp với điều kiện của đất nước và xu thế của thời đại.
Sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, tiềm lực đất nước được nâng lên, vị thế quốc tế ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên, thế giới đang bước vào giai đoạn toàn cầu hóa sâu rộng trên nền tảng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt về tốc độ tăng trưởng, tính bền vững của phát triển, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực hội nhập.
Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu đất nước phải bước vào một giai đoạn phát triển mới với một mô hình phát triển mới.Mô hình ấy vừa phải kế tục truyền thống văn hiến của dân tộc, vừa phù hợp với yêu cầu của thời đại, trong số đó, những trụ cột quan trọng phải dựa vào con người Việt Nam, trí tuệ Việt Nam và văn hóa Việt Nam; mục tiêu phát triển hướng tới con người Việt Nam, hạnh phúc của nhân dân, độc lập, tự do của dân tộc.
Cùng với việc phát huy những nguồn lực nội sinh, mô hình phát triển mới phải dựa ngày càng nhiều hơn vào khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát huy sức mạnh của văn hóa, đối thoại và hội nhập quốc tế.
Qua đó, Việt Nam không chỉ thích ứng với những biến đổi của thế giới mà cần trở thành một hợp phần hữu cơ, chủ động và xứng đáng trong thế giới toàn cầu hóa.
Trong cấu trúc phát triển đó, con người và nguồn nhân lực giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Hồng Tung nhận định cạnh tranh toàn cầu hiện nay ngày càng tập trung vào tốc độ đổi mới tri thức khoa học, tốc độ rút ngắn vòng đời công nghệ và hàm lượng chất xám được tích hợp trong sản phẩm, dịch vụ. Vì vậy, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuẩn bị nguồn nhân lực đủ khả năng làm chủ những động lực mới.
Nhìn tới các mốc 2030 và 2045, chủ nhân của đất nước ở những thời điểm đó chính là những thế hệ đang học tập hôm nay. Sinh viên hiện nay sẽ trở thành lực lượng trực tiếp tham gia xây dựng và phát triển đất nước ở mốc 2030; những học sinh hôm nay sẽ là lực lượng quan trọng khi Việt Nam tiến tới năm 2045.
Vì vậy, chuẩn bị nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, chính là chuẩn bị hành trang phát triển cho đất nước trong những thập niên tới.Từ yêu cầu đó, đột phá trong giáo dục và đào tạo không thể chỉ được xem là công việc riêng của ngành giáo dục, mà cần trở thành trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Đây là sự chuẩn bị cần thiết để thế hệ trẻ có đủ tri thức, năng lực và khả năng sáng tạo, đảm đương vai trò chủ nhân đất nước trong tương lai. Cùng với giáo dục, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo, văn hóa cũng cần được phát huy như một nguồn lực của phát triển.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, vấn đề không chỉ dừng lại ở giữ gìn bản sắc, mà còn phải làm cho những giá trị ưu tú của văn hóa Việt Nam được tỏa sáng, trở thành sức mạnh nội sinh trong cạnh tranh và hội nhập toàn cầu.Để những nguồn lực đó được phát huy, thể chế tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Lợi thế thể chế gắn với lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở các cấp, trong đó, năng lực lãnh đạo chiến lược đòi hỏi vừa có tầm nhìn dài hạn, vừa có khả năng xử lý những tình huống trước mắt để tối ưu hóa các cơ hội và nguồn lực phát triển.
Theo Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Hồng Tung, khi có thể quy tụ được ý chí của cơ quan, doanh nghiệp, người dân, địa phương và cả nước, dân tộc Việt Nam mới trở thành một khối năng động, sáng tạo và thống nhất.
Đây là điều kiện quan trọng để đất nước tạo sức bật trong kỷ nguyên mới, hướng tới hiện thực hóa các mục tiêu phát triển vào năm 2030 và năm 2045./.
