Từ thành công của kỳ họp không thường lệ đến khí thế phát triển mới

Thành công của Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI không chỉ được đo bằng khối lượng lớn các luật, nghị quyết được xem xét, thông qua trong 17 ngày làm việc khẩn trương, mà còn ở một dấu ấn quan trọng hơn: Tinh thần hành động, khả năng phản ứng nhanh với thực tiễn và quyết tâm biến thể chế thành nguồn lực phát triển. Kỳ họp đã cho thấy rõ hơn một yêu cầu: Quyết sách phải kịp thời, tổ chức thực hiện phải quyết liệt, phát triển kinh tế - xã hội phải luôn gắn chặt với củng cố quốc phòng, an ninh và bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân.

Thể chế phải đi trước, mở đường cho phát triển

Sau 17 ngày làm việc tích cực, khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm cao, Kỳ họp không thường lệ thứ nhất đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra, thông qua 15 luật, 6 nghị quyết quy phạm pháp luật, cho ý kiến lần đầu đối với 7 dự án luật khác và quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước.

Phần lớn các nội dung đều trực tiếp hướng tới tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, khơi thông nguồn lực và mở thêm không gian phát triển.

 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham dự phiên bế mạc Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: qdnd.vn 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham dự phiên bế mạc Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: qdnd.vn 

Trong phát biểu bế mạc, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã khái quát tinh thần kỳ họp bằng bốn từ rất cô đọng: “Linh hoạt - Nhanh chóng - Quyết liệt - Đồng hành”. Đây không chỉ là lời tổng kết về một kỳ họp cụ thể, mà phản ánh một yêu cầu đang ngày càng rõ đối với hoạt động lập pháp trong giai đoạn mới: Quốc hội phải theo kịp nhịp vận động của đất nước, kịp thời xử lý những vấn đề mà thực tiễn đặt ra, nhưng đồng thời vẫn phải giữ vững chất lượng, kỷ luật, kỷ cương và tính thận trọng cần thiết của công tác xây dựng pháp luật.

Khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, mô hình kinh doanh mới, những yêu cầu mới về bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh kinh tế, an ninh phi truyền thống, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các không gian mới... đang làm thay đổi cách chúng ta nhìn về quản trị quốc gia. Nếu thể chế đi sau quá xa, cơ hội sẽ bị bỏ lỡ; nguồn lực bị ách tắc; sự sáng tạo của người dân, doanh nghiệp bị hạn chế; thậm chí những khoảng trống pháp lý có thể trở thành rủi ro đối với an ninh, trật tự và sự phát triển bền vững.

Đó là lý do Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Khi xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển, Nghị quyết 66 đã đặt hoạt động lập pháp vào một vị trí mới. Pháp luật không chỉ để quản lý xã hội, xử lý vi phạm hay giữ gìn trật tự; pháp luật còn phải mở đường cho sáng tạo, giải phóng sức sản xuất, huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.

Đây cũng là điểm gặp gỡ rất rõ với Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28-7-2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Mô hình phát triển mới đòi hỏi chúng ta chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang tư duy kiến tạo, dẫn dắt phát triển; lấy con người làm trung tâm, chủ thể và mục tiêu; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng thể chế và quản trị quốc gia làm những động lực quan trọng.

Tại phiên bế mạc, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề cập tới nhận định của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là: Chỉ thông qua công việc thực tế mới đánh giá được năng lực, trình độ và tinh thần trách nhiệm. Câu nói ấy ngắn gọn nhưng gợi ra một tiêu chuẩn rất rõ đối với cán bộ, cơ quan và cả hệ thống: Năng lực phải được đo bằng khả năng xử lý công việc thực tế; trách nhiệm phải được chứng minh bằng kết quả; bản lĩnh phải thể hiện rõ nhất khi công việc khó, áp lực lớn và thời gian gấp.

Các đại biểu làm việc với cường độ cao, thảo luận thẳng thắn, sâu sắc, bám sát thực tiễn. Sự phối hợp giữa cơ quan ngày càng thực chất, chủ động xử lý vấn đề ngay trong quá trình chuẩn bị, giảm tối đa độ trễ giữa phát hiện điểm nghẽn và thiết kế giải pháp pháp lý.

Nhìn rộng hơn, đó là một biểu hiện cụ thể của đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Nguồn lực phát triển không chỉ nằm ở vốn, tài nguyên hay lao động, mà còn ở việc tháo gỡ rào cản, đơn giản hóa thủ tục, phân cấp hợp lý và tạo hành lang pháp lý thông thoáng.

Kiến tạo phát triển gắn với giữ vững quốc phòng, an ninh

Đặc biệt, trong phát biểu bế mạc của Chủ tịch Quốc hội, yêu cầu chuyển thật nhanh từ khâu ban hành chính sách sang tổ chức thực hiện. Luật và nghị quyết được thông qua chưa phải là đích đến. Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương phải chủ động chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để thi hành ngay khi văn bản có hiệu lực; việc thuộc thẩm quyền cấp nào thì cấp đó phải chủ động quyết định, chủ động làm, không trông chờ, đùn đẩy và không để người dân, doanh nghiệp phải chờ đợi.

Một đạo luật tiến bộ nhưng chậm được triển khai thì cơ hội vẫn có thể bị bỏ lỡ. Một chính sách phân cấp mạnh nhưng cán bộ không dám quyết thì quyền được trao chưa thể trở thành năng lực phát triển. Một quy định đúng nhưng người dân không biết, không hiểu hoặc khó tiếp cận thì hiệu quả xã hội vẫn rất hạn chế. Vì vậy, khi Nghị quyết 66 nói đến đổi mới đồng bộ cả xây dựng và thi hành pháp luật, điều đó hàm ý rằng quá trình lập pháp chỉ thực sự hoàn thành khi chính sách tạo ra chuyển biến trong đời sống.

Trong 15 luật được Quốc hội thông qua có Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 9 luật về quân sự, quốc phòng. Cả 2 dự án đều nhận được tỷ lệ tán thành rất cao của đại biểu Quốc hội. Điều đó cho thấy trong chương trình lập pháp phục vụ phát triển, hoàn thiện hành lang pháp lý cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng vẫn được đặt ở vị trí hết sức quan trọng.

Việc ban hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt có ý nghĩa không chỉ ở việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong nước, mà còn gắn với trách nhiệm của Việt Nam trong thực hiện các cam kết quốc tế, chủ động phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn những nguy cơ có thể đe dọa hòa bình, an ninh quốc gia và an ninh quốc tế.

Cùng với đó, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của 9 luật về quân sự, quốc phòng cho thấy yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này để phù hợp với tổ chức bộ máy, yêu cầu thực tiễn và nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Phát triển đất nước trong giai đoạn mới đặt ra những yêu cầu mới đối với quốc phòng, an ninh; ngược lại, môi trường hòa bình, ổn định, chủ quyền và an ninh quốc gia được giữ vững lại là điều kiện nền tảng để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Hai nhiệm vụ ấy không tách rời nhau mà bổ sung, hỗ trợ cho nhau.

Thành công của kỳ họp cho thấy, mở không gian cho kinh tế nhưng đồng thời phải giữ vững không gian an ninh; khuyến khích đổi mới sáng tạo nhưng phải tăng cường năng lực bảo vệ lợi ích quốc gia; đẩy mạnh hội nhập nhưng phải củng cố sức mạnh tự chủ, tự cường; tăng trưởng nhanh nhưng phải bền vững và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Quân đội trong bối cảnh ấy không chỉ là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh quân sự. Quân đội còn tham gia phòng, chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn, bảo vệ biên giới, biển đảo; đồng hành cùng Nhân dân ở những vùng khó khăn; tham gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân. Chính sự ổn định, kỷ cương, niềm tin xã hội và sức mạnh đoàn kết toàn dân là nền tảng để đất nước thực hiện những mục tiêu phát triển lớn.

Vì thế, khi nói về một Nhà nước kiến tạo phát triển, chúng ta cũng cần hiểu đó là một Nhà nước có đủ năng lực bảo vệ môi trường hòa bình và ổn định cho phát triển. Thể chế tốt không chỉ giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn, người dân có thêm cơ hội hơn, mà còn phải làm cho quốc gia an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, chủ quyền được bảo vệ vững chắc hơn và khả năng ứng phó với các nguy cơ ngày càng chủ động hơn.

Thông điệp của Chủ tịch Quốc hội về đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật bằng khoa học, công nghệ, nền tảng số rất đáng chú ý. Trong thời đại số, khoảng cách từ một chính sách đúng đến một chính sách được xã hội hiểu đúng có ý nghĩa rất lớn. Truyền thông chính sách rõ ràng, minh bạch, dễ tiếp cận sẽ giúp tăng cường đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin và tạo nền tảng để pháp luật đi vào cuộc sống.

Thành công của kỳ họp đặt ra một yêu cầu về văn hóa hành động: Chủ động thay cho chờ đợi; phối hợp thay cho cát cứ; dám chịu trách nhiệm thay cho né tránh; hiệu quả thực chất thay cho hoàn thành thủ tục. Đây là những phẩm chất rất gần với tinh thần kỷ luật, trách nhiệm, nói đi đôi với làm mà Quân đội luôn coi trọng.

Đất nước đang bước vào giai đoạn mà Chủ tịch Quốc hội gọi là “tăng tốc, bứt phá”. Muốn tăng tốc, trước hết thể chế phải thông thoáng; bộ máy phải vận hành nhịp nhàng; cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Nhưng muốn bứt phá bền vững, chúng ta đồng thời phải giữ vững độc lập, chủ quyền, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và môi trường hòa bình. Phát triển và bảo vệ Tổ quốc vì thế phải được đặt trong cùng một tư duy chiến lược.

Kỳ họp đã phát đi một tín hiệu rõ ràng về một phương thức hành động mới: Quốc hội phản ứng nhanh hơn với thực tiễn; Chính phủ và các cơ quan phối hợp chặt chẽ hơn; thể chế được thiết kế để mở đường và khơi thông nguồn lực; quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố bằng những nền tảng pháp lý phù hợp với yêu cầu mới.

Từ một kỳ họp, điều cần giữ lại là tinh thần chủ động, khẩn trương, kỷ luật, trách nhiệm và đồng hành. Mỗi quyết sách đúng phải được chuyển hóa thật nhanh thành hành động; mỗi hành động phải tạo ra kết quả và mỗi kết quả cuối cùng phải góp phần làm cho đất nước mạnh hơn, xã hội an toàn hơn, Nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc hơn.

BÙI HOÀI SƠN

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/chinh-tri/cac-van-de/tu-thanh-cong-cua-ky-hop-khong-thuong-le-den-khi-the-phat-trien-moi-1054572