Từ vốn cổ di sản đến hệ sinh thái sáng tạo đương đại

Làm thế nào để chuyển hóa kho tàng di sản đồ sộ thành sức mạnh nội sinh, kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên mới? Đây là vấn đề đặt ra sau 555 năm định danh vùng đất xứ Quảng, đặc biệt ở bối cảnh không gian rộng mở như hiện tại. Trong chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa, gồm 5 mắt xích liên hoàn: Nghiên cứu - bảo tồn - diễn giải - sáng tạo - lan tỏa, bảo tàng đóng vai trò hạt nhân điều phối.

Mô hình ba vòng giá trị đồng tâm.

Mô hình ba vòng giá trị đồng tâm.

Tầng sâu hệ giá trị di sản

Ngược dòng lịch sử, tháng Sáu năm Tân Mão (1471), vua Lê Thánh Tông đặt đạo Thừa tuyên Quảng Nam - đạo thứ 13 của Đại Việt. Tên gọi “Quảng Nam” chính thức xuất hiện, mở đầu một trường thiên lịch sử dựng nước, giữ nước và xác lập chủ quyền cương vực phương Nam.

Suốt 555 năm qua, xứ Quảng không thuần túy là một thực thể địa lý hay một phân cấp hành chính, mà đã bồi tụ thành một không gian văn hóa đặc sắc, nơi hội tụ và giao thoa của những lớp trầm tích cổ xưa: từ cư dân tiền sử Bàu Dũ, văn hóa Sa Huỳnh, vương quốc Champa rực rỡ đến văn minh Đại Việt và luồng giao thương quốc tế tấp nập tại đô thị thương cảng Hội An.

Từ góc độ di sản học, giá trị lớn nhất mà 555 năm để lại cho xứ Quảng không đơn thuần nằm ở số lượng hiện vật, danh thắng hay các danh hiệu được vinh danh, mà kết tinh thành một hệ giá trị di sản đa tầng, gắn bó hữu cơ với nhau.

Đó là vùng đất chuyển tiếp liên tục tích hợp các dấu ấn lịch sử, từ các di chỉ khảo cổ học sơ kỳ đồ đồng, thời kỳ đồ sắt đến hệ thống thành lũy, tháp cổ và cảng thị quốc tế.

Cùng với đó, khả năng dung hòa văn hóa bản địa với quốc tế, tạo nên lối sống vừa kiên định cốt cách truyền thống, vừa cởi mở tiếp nhận những giá trị mới.

Cạnh đó, tri thức bản địa phong phú khi tích hợp khối tri thức ứng xử môi trường, kỹ nghệ điêu khắc đá Non Nước, gốm Thanh Hà, mộc Kim Bồng, dệt thổ cẩm Cơ Tu, cùng di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gắn với ẩm thực và sản vật như mì Quảng, sâm Ngọc Linh...

Ở giá trị bản sắc và tinh thần sáng tạo, đã có tinh thần khai mở, ý chí tự lực, truyền thống hiếu học và năng lực thích ứng linh hoạt. Di sản xứ Quảng chưa bao giờ là một “hóa thạch” bất biến, mà luôn được tái tạo không ngừng qua thực hành của cộng đồng.

Di sản không chỉ để bảo tồn thuần túy mà phải trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển.

Định vị lại vai trò bảo tàng

Trong mô hình kinh tế sáng tạo, việc thương mại hóa di sản nếu thiếu thiết chế dẫn dắt rất dễ rơi vào nguy cơ thương mại hóa thô thiển, làm sai lệch hoặc biến dạng giá trị gốc. Đây chính là lúc bảo tàng học đương đại khẳng định sứ mệnh mới.

Khi đặt trong chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa gồm 5 mắt xích liên hoàn: Nghiên cứu - bảo tồn - diễn giải - sáng tạo - lan tỏa, bảo tàng đóng vai trò hạt nhân điều phối, vừa là trung tâm tri thức, vừa là bệ đỡ sáng tạo và không gian kết nối cộng đồng.

Bảo tàng cung cấp dữ liệu gốc chuẩn xác về mặt khoa học, định hướng thẩm mỹ và thẩm định chất lượng để từ đó, các ngành công nghiệp văn hóa - từ du lịch, điện ảnh, xuất bản, thiết kế đồ họa đến thủ công mỹ nghệ – có thể tự tin phát triển sản phẩm phái sinh.

Từ thực tiễn nghiên cứu tại địa phương, khung vận hành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa dựa trên di sản được đề xuất qua mô hình ba vòng giá trị đồng tâm, lấy bảo tàng làm hạt nhân.

Đầu tiên là vòng lõi tri thức. Bảo tàng thực hiện các chức năng căn cốt: khai quật khảo cổ, sưu tầm, giám định khoa học, bảo quản hiện vật và xây dựng cơ sở dữ liệu số chuẩn hóa về di sản Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt, tư liệu Hán Nôm và tri thức bản địa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi (Cơ Tu, Xơ Đăng, Giẻ Triêng…). Đây là “mỏ neo” bảo đảm tính chân xác, ngăn ngừa tình trạng thương mại hóa lệch chuẩn.

Ở vòng diễn giải - sáng tạo, tri thức học thuật được chuyển ngữ thành các sản phẩm truyền cảm hứng: không gian trưng bày ứng dụng công nghệ thực tế ảo/thực tế tăng cường (VR/AR), xuất bản phẩm giáo dục di sản số, và đặc biệt là không gian đồng sáng tạo giữa bảo tàng, nghệ nhân làng nghề với giới thiết kế đương đại.

Hoa văn, họa tiết cổ từ gốm, đá, thổ cẩm được mã hóa thành ngôn ngữ thiết kế mỹ thuật ứng dụng phục vụ thời trang, quà tặng lưu niệm và kiến trúc.

Cùng với đó, đưa sản phẩm sáng tạo ra thị trường văn hóa thông qua các tour trải nghiệm di sản chuyên sâu, chuỗi thương mại điện tử làng nghề, sản phẩm công nghiệp giải trí số và các diễn đàn ngoại giao văn hóa quốc tế.

Phản hồi từ thị trường và công chúng sẽ được tiếp nhận ngược trở lại vòng lõi để điều chỉnh công tác nghiên cứu, tạo thành một chu trình kinh tế tuần hoàn, bền vững.

Hoạt động tại Bảo tàng Đà Nẵng cơ sở 2. Ảnh: H.S

Hoạt động tại Bảo tàng Đà Nẵng cơ sở 2. Ảnh: H.S

Để hiện thực hóa trọn vẹn mô hình hệ sinh thái công nghiệp văn hóa trong giai đoạn 2026 - 2035, thành phố cần tập trung triển khai 5 nhóm giải pháp.

Đó là xây dựng cơ chế liên ngành văn hóa - du lịch - giáo dục - khoa học - công nghệ; hoàn thiện khung pháp lý về hợp tác công - tư (PPP) trong bảo tàng và bản quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm sáng tạo phái sinh, bảo đảm nguyên tắc phân chia lợi ích công bằng với cộng đồng nguồn nắm giữ di sản.

Ưu tiên đầu tư quét 3D, số hóa toàn diện di tích và hiện vật quý; xây dựng cổng dữ liệu di sản mở (open heritage data) có bản quyền để doanh nghiệp khởi nghiệp, giới sáng tạo và giáo dục dễ dàng khai thác làm chất liệu phát triển ứng dụng.

Đào tạo đội ngũ làm bảo tàng chuyên nghiệp không chỉ giỏi giám định, bảo quản mà còn thành thạo quản trị dự án sáng tạo, thiết kế truyền thông trải nghiệm và làm chủ công nghệ mới.

Thiết lập cơ chế “vườn ươm” sáng tạo ngay tại bảo tàng, đưa các nhà thiết kế trẻ, doanh nghiệp công nghệ về với làng nghề gốm Thanh Hà, mộc Kim Bồng, dệt thổ cẩm miền núi để cùng nghệ nhân tạo ra các dòng sản phẩm quà tặng, thời trang đạt chuẩn quốc tế.

Kết nối mạng lưới bảo tàng, không gian văn hóa trên toàn địa bàn Đà Nẵng mở rộng và các địa phương miền Trung, tạo thành chuỗi sản phẩm công nghiệp văn hóa đặc sắc, nâng tầm vị thế di sản Việt Nam trên trường quốc tế.

Nhìn lại dấu mốc 555 năm vùng đất xứ Quảng là dịp để khẳng định tư duy phát triển tiến bộ, đó là chuyển từ việc “bảo tồn những gì quá khứ để lại” sang “kiến tạo những giá trị tương lai từ di sản”.

Khi bảo tàng thực sự trở thành trái tim của hệ sinh thái sáng tạo, mạch nguồn trầm tích 555 năm xứ Quảng sẽ được khơi thông...

Ngày 22/10, Hội thảo khoa học “Đô thị thương cảng Hội An và xứ Quảng trong hành trình 555 năm (1471 - 2026)” sẽ tổ chức. Đây được xem như diễn đàn học thuật quy mô, nhìn lại chặng đường của một vùng đất đặc biệt.

HÀ SƯƠNG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/tu-von-co-di-san-den-he-sinh-thai-sang-tao-duong-dai-3355369.html