Tuyến du lịch Hội An đầu thế kỷ XX:Hành trình di sản đầy hoài niệm
Cách đây hơn một thế kỷ, trong nỗ lực quảng bá tiềm năng du lịch Đông Dương, tập sách Hướng dẫn du lịch Trung Kỳ (Guide de l’Annam) do P. Eberhard biên soạn và xuất bản tại Paris vào năm 1914 đã phác họa một bức tranh sống động, đầy thú vị về phố cổ Hội An.

Tài liệu còn đóng vai trò như một “cuốn phim” tư liệu để bạn đọc ngày nay có thể hình dung diện mạo, nếp sống và đời sống văn hóa Hội An.
Từ lộ trình “đường cái quan” đến dấu ấn Hội An xưa
Trong tâm thức của nhiều người hiện nay, việc di chuyển từ Đà Nẵng vào Hội An thường gắn liền với cung đường biển qua Ngũ Hành Sơn hoặc dọc theo sông Cổ Cò. Tuy nhiên, dưới nhãn quan của người Pháp đầu thế kỷ XX, lộ trình của tuyến du lịch này lại có sự khác biệt. Tập sách Guide de l’Annam không hướng dẫn đi bằng đường thủy, mà xác lập tuyến đường bộ “đường cái quan” dài 33km.
Cụ thể, từ Đà Nẵng, du khách phải di chuyển khoảng 3-4km bằng xe kéo, ô tô hoặc đi bộ để đến bến đò Cẩm Lệ. Sau khi qua đò, hành trình tiếp nối qua một cây cầu bê tông cốt sắt dài 103m (bắc qua sông Cẩm Lệ), đi ngang qua “thành tỉnh” (La Qua ở Điện Bàn), nơi có dinh thự của các quan đầu tỉnh, rồi tiếp tục 9,5km qua làng gạch ngói Thanh Hà để về tới Hội An.
Hội An hơn 100 năm trước là một đô thị có sự hiện diện của Tòa Công sứ, cộng đồng người Âu, phố xá người Hoa và người bản xứ sầm uất. Mặc dù dịch vụ lưu trú thời ấy còn khá hạn chế - với các khách sạn của người An Nam chỉ phục vụ ăn uống chứ chưa có chỗ nghỉ - nhưng sự kết nối giao thương và hành chính đã biến nơi đây thành một trạm dừng chân lý tưởng trong hành trình di sản tại Quảng Nam lúc bấy giờ.
Hành trình “viếng chùa” - nét đặc sắc trong văn hóa Hội An
Điểm nhấn quan trọng nhất trong tuyến du lịch Hội An năm 1914 chính là hành trình tham quan các hội quán và chùa chiền. Theo P. Eberhard, đây được coi là hành trình “chính thức và tiêu biểu nhất” để thấu hiểu văn hóa của vùng đất này. Du khách được dẫn dắt khám phá các ngôi chùa của người Hoa Kiều như: Chùa bang Triều Châu nổi bật với những bức tranh màu sắc sặc sỡ và các cửa gỗ chạm trổ tinh tế, được trùng tu từ năm 1890. Chùa Hải Nam là nơi lưu giữ những tấm ván khảm xà cừ tinh xảo về một đoàn người nằm ngay trên cửa ra vào.
Chùa Phước Kiến nằm về phía sau một khu vườn trên nền đất cao. Điều đáng chú ý ở ngôi chùa này là về bức tranh vẽ một con tàu đang theo chiều gió, được cầu khẩn thần Kouan Yin để nhắc lại về việc cư dân của tỉnh Phúc Kiến phải vượt biển để đến cư ngụ tại đây.
Chùa Ngũ Bang hấp dẫn với lư hương bằng đồng khổng lồ (đường kính 1,2m) và những nghi lễ thả thuyền giấy trên sông đầy màu sắc.
Chùa Quảng Đông duyên dáng với dãy hàng rào song sắt và những viên đá hình dáng đẹp, nay đã hoang phế, làm kho hàng chứa mây tre, làm chỗ hoạt động một số công nghiệp địa phương hoặc cửa hàng chụp ảnh. Chùa được xây cất vào năm 1885. Đặc biệt, Chùa Cầu hiện lên như một biểu tượng kiến trúc. Đó là cây cầu có vòng đá cuốn để đỡ phần đường đi qua lót bằng gỗ, những xà ngang có ghi liên tục ngày khôi phục lại.
Bên cạnh những ngôi chùa người Hoa, tài liệu còn nhắc đến chùa Phước Lâm - một ngôi chùa Phật nằm giữa bãi cát cách ga Hội An nửa tiếng di chuyển. Chùa nổi tiếng với những nghi lễ để phong chức, người ta gọi đó là cuộc tuyển chọn về lòng sùng đạo. Các nhà sư từ khắp miền Trung Kỳ tụ tập về đây để tham dự lễ. Họ đọc kinh suốt 3 ngày dưới sự điều hành của một vị Hòa Thượng thực hành nhiều cuộc hành xác mà ly kỳ nhất là việc để 3 cây nến cháy trên đầu cho đến lúc tắt. Trong nhiều trường hợp các cây nến cháy hết tạo ra các lỗ trên đầu đã cạo trọc họ vẫn kiên nhẫn chịu đựng, im lặng càng đọc nhanh kinh cầu. Một số nhà sư có vết sẹo lõm trên đầu cạo trọc, nhờ vậy họ thọ chức và được quần chúng ngưỡng mộ.
Điểm đến kết nối các hành trình di sản
Ngoài vẻ đẹp văn hóa - tâm linh, Hội An đầu thế kỷ XX còn là một trung tâm kinh tế năng động. Tập sách không chỉ hướng dẫn tham quan mà còn gợi ý du khách đến thăm các xí nghiệp chế biến chè, kéo tơ và thuộc da của các hãng lớn thời bấy giờ như Derobert và Fiard.
Sự kết nối của Hội An không chỉ gói gọn trong phố cổ, mà còn mở rộng ra các di sản xung quanh. Người Pháp đã nhìn thấy tiềm năng kết nối của phố Hội với khu phế tích Tháp Chàm Đông Dương hay các chuyến dạo chơi đến Chợ Củi. Chính tư duy này đã định hình Hội An trở thành một “điểm dừng chân” nghỉ ngơi, nơi du khách có thể trở về sau một ngày dài khám phá các vùng lân cận ở Quảng Nam.
Đọc lại những dòng tư liệu từ năm 1914, độc giả ngày nay hình dung lại những di sản từng bị ghi chép là “hoang phế”, “tồi tàn” hay “bị bỏ hoang” như chùa Quảng Đông hay một số hạng mục quanh Chùa Cầu, nay đã được phục hồi và trở thành giá trị văn hóa - lịch sử có tính biểu tượng của Hội An.












