Tuyên ngôn Độc lập soi sáng con đường Cách mạng Việt Nam

Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập của dân tộc Việt Nam. 81 năm qua, toàn thể dân tộc Việt Nam luôn vững bước dưới ngọn cờ tư tưởng độc lập, tự do của Hồ Chí Minh. Từ lời thề “giữ vững quyền tự do và độc lập” đến chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, Người đã đưa dân tộc ta đến bến bờ độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội và củng cố quyết tâm son sắt của dân tộc ta “tự chủ, tự lực, tự cường” tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng tuyệt vời của sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân”, của tinh thần đại đoàn kết dân tộc, gắn với vai trò lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, vai trò to lớn của sức mạnh Nhân dân.

Ngày 2/9/1945, ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người trịnh trọng tuyên bố với thế giới về quyền dân tộc cơ bản của nước Việt Nam và quyết tâm giữ gìn nền tự do độc lập của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng cảnh báo nghiêm khắc những thế lực xâm lăng đang có mặt trên đất nước Việt Nam lúc đó: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Những giá trị vĩnh hằng, soi sáng con đường cách mạng của dân tộc Việt Nam của Tuyên ngôn Độc lập thể hiện những điểm cốt lõi sau:

Một là, Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo là sự khẳng định thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đó là trang sử vàng chói lọi đánh dấu sự kết thúc của chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ thực dân, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc. Tuyên ngôn Độc lập “là hoa, là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường. Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam”.

Hai là, Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là một áng văn lập quốc vĩ đại, bản anh hùng ca chiến đấu và chiến thắng của dân tộc Việt Nam, nêu cao ý chí đấu tranh của toàn dân để giữ vững quyền độc lập tự do, bảo vệ chế độ cộng hoà dân chủ Việt Nam; kết tinh những giá trị văn hóa của dân tộc và toàn nhân loại; kết tinh ý chí và nguyện vọng độc lập tự do của nhân dân Việt Nam. Quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam được khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập đã đặt cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ba là, Tuyên ngôn Độc lập khẳng định ý chí mạnh mẽ và quyết tâm sắt đá của Nhân dân ta, quyết tâm bảo vệ nền độc lập mới giành được, thể hiện lập trường kiên định về độc lập, tự do của dân tộc, phản ánh niềm tin vững chắc vào sức mạnh của dân tộc Việt Nam, dù phải hy sinh gian khổ, song quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập. Tuyên ngôn Độc lập còn thể hiện rõ tầm nhìn sâu rộng, khả năng dự liệu thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những khó khăn, thách thức ở phía trước đe dọa nền độc lập của dân tộc. Người không chỉ khẳng định chủ quyền của Việt Nam mà còn khơi dậy tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất của dân tộc, khích lệ lòng tự hào dân tộc, khẳng định ý chí, quyết tâm của nhân dân ta sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ vững chắc độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Giữ vững độc lập

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhân dân ta hưởng niềm vui độc lập chưa được bao lâu, thì đế quốc lại kéo đến xâm lăng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ kiên trì và khôn khéo đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những thác ghềnh nguy hiểm, từng bước củng cố và nắm vững thực lực cách mạng, loại bỏ bớt kẻ thù, nỗ lực cứu vãn một nền hòa bình mong manh. Nhưng thực dân Pháp ngày càng lấn tới, Tổ quốc lâm nguy!

Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả dân tộc đứng lên kháng chiến: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Dù phải gian lao kháng chiến nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi cuối cùng nhất định về dân tộc ta!”. Cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của Nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơnevơ công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nước Việt Nam.

Khi Mỹ vào thay chân Pháp ở miền Nam, quyết chia cắt lâu dài nước Việt Nam. Việt Nam trở thành nơi diễn ra cuộc đụng đầu lịch sử mang tính chất thời đại và mang tầm vóc quốc tế. Một lần nữa, dân tộc Việt Nam lại đứng lên chiến đấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân: “Không có gì quý hơn độc lập độc lập tự do!”. Cả dân tộc quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, từng bước đi tới mùa Xuân Đại thắng năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập, với những giá trị lịch sử, pháp lý, nhân văn và thời đại, định hướng cho đất nước phát triển, soi đường cho cách mạng Việt Nam. Trong 40 năm tiến hành đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, các giá trị của Bản Tuyên ngôn được khẳng định: Trước hết, các quyền của con người Việt Nam, từ quyền dân tộc đến quyền con người được Đảng hiện thực hóa trong các chích sách xã hội, chính sách văn hóa, giáo dục, bảo đảm cho con người Việt Nam được bình đẳng trên mọi lĩnh vực. Con người Việt Nam là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực quan trọng nhất của sự phát triển bền vững; đời sống Nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện.

Phát huy tinh thần hiệu triệu toàn dân của Tuyên ngôn Độc lập, trong công cuộc đổi mới,  Đảng luôn củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, với phương châm nhất quán: Đoàn kết không chỉ để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mà còn để nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc và khẳng định chủ quyền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Quốc phòng, an ninh, an toàn xã hội được đảm bảo, tiềm lực của đất nước được khẳng định.

Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, là thành viên có uy tín, trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các thể chế khu vực và quốc tế. Từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công mở ra kỷ nguyên độc lập của dân tộc, hơn 80 năm sau, tiếp bước những chặng đường phát triển của cách mạng Việt Nam, thực hiện giá trị của Tuyên ngôn Độc Lập, Đại hội XIV (2026) của Đảng khẳng định mục tiêu phát triển của đất nước với tinh thần: “Tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc” và toàn Đảng, toàn quân, toàn dân luôn “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

Với 81 Tết Độc Lập, tư tưởng độc lập, tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập, mãi là di sản tinh thần vô giá, khắc sâu trong tâm khảm của mỗi người dân yêu nước Việt Nam về lời thề sắt son bảo vệ vững chắc độc lập, tự do. Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, việc phát huy giá trị của Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là trách nhiệm của Đảng, mà là nghĩa vụ, quyền lợi của mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân, nhằm xây dựng “một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”

TS DƯƠNG MINH HUỆ (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)

Nguồn Lạng Sơn: https://baolangson.vn/tuyen-ngon-doc-lap-soi-sang-con-duong-cach-mang-viet-nam-5103331.html