Tuyên Quang đặt mục tiêu tăng trưởng 10,5%/năm
Tuyên Quang đặt mục tiêu tốc độ tăng GRDP bình quân 10,5%/năm trong giai đoạn 2026-2030, đồng thời đẩy mạnh kinh tế số, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và cải cách môi trường kinh doanh để hình thành những động lực tăng trưởng mới.
UBND tỉnh Tuyên Quang vừa ban hành Kế hoạch xác định các mục tiêu, chỉ tiêu đến năm 2030, 2035 và 2045, cùng 40 nhóm nhiệm vụ, giải pháp nhằm đổi mới mô hình phát triển, nâng cao năng lực quản trị và sức cạnh tranh của địa phương.
Theo kế hoạch, giai đoạn 2026-2030, Tuyên Quang phấn đấu tăng trưởng GRDP bình quân 10,5%/năm; GRDP bình quân đầu người đến cuối kỳ đạt 95 triệu đồng; năng suất lao động tăng bình quân 9,1%/năm và tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt trên 20%.
Giai đoạn 2031-2035, tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 8%/năm, GRDP bình quân đầu người đạt 137 triệu đồng, năng suất lao động tăng 7,8%/năm và kinh tế số đóng góp trên 32% GRDP. Giai đoạn 2036-2045, các chỉ tiêu tương ứng là 7%/năm, 247 triệu đồng/người, 6,2%/năm và trên 40%.

Giai đoạn 2031-2035, Tuyên Quang đặt mục tiêu GRDP bình quân đầu người đạt 137 triệu đồng
Lấy khoa học, công nghệ và kinh tế số làm động lực
Một trong những trọng tâm của mô hình phát triển mới là thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu có trên 10 doanh nghiệp khoa học và công nghệ; trên 25% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo; trên 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ số.
Tỉnh cũng đặt mục tiêu trên 60% sản phẩm, dịch vụ chủ lực, đặc thù được bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ; chi ngân sách địa phương cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt trên 1,5%. Khoảng 80% cơ sở dữ liệu dùng chung thuộc danh mục được phê duyệt sẽ hoàn thành số hóa, kết nối và chia sẻ với các hệ thống của Trung ương.
Cùng với đó, Tuyên Quang định hướng xây dựng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo; phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với các ngành, lĩnh vực ưu tiên và sản phẩm chủ lực.
Trường Đại học Tân Trào được định hướng xây dựng đạt chuẩn cơ sở giáo dục đại học, từng bước trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của tỉnh và khu vực.

Cải thiện quản trị, nâng sức cạnh tranh
Tuyên Quang đồng thời đặt trọng tâm vào nâng cao chất lượng quản trị, cải cách hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh. Đến năm 2030, chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) phấn đấu xếp thứ 20/34 tỉnh, thành phố; chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) thuộc nhóm địa phương có chất lượng điều hành “Khá”.
Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) phấn đấu đạt từ 80% trở lên; chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) xếp từ 15 đến 20/34 tỉnh, thành phố.
Kế hoạch cũng đề cập việc triển khai khung chỉ số quản trị quốc gia tại địa phương; hoàn thiện hệ thống pháp luật, thu hút và trọng dụng nhân tài; phát triển kinh tế không gian ngầm, không gian tầm thấp; triển khai các chiến lược về trí tuệ nhân tạo, công nghiệp, năng lượng, dịch vụ và logistics.
Trong đối ngoại và hội nhập quốc tế, tỉnh đặt mục tiêu hằng năm ký kết mới từ 3-5 chương trình hợp tác quốc tế, kết nối từ 10-20 đối tác quốc tế mới, ưu tiên các lĩnh vực đầu tư, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và những lĩnh vực tỉnh có nhu cầu, lợi thế.
Gắn tăng trưởng với an sinh và môi trường
Bên cạnh các mục tiêu kinh tế, Tuyên Quang xác định phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao chất lượng đời sống là những nội dung quan trọng của mô hình phát triển mới.
Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu quy mô dân số đạt khoảng 1,859 triệu người; tỷ trọng đào tạo các ngành STEM đạt 30%; có trên 600 cán bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ. Khoảng 50% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, 35% tham gia bảo hiểm thất nghiệp và hướng tới 100% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Tuổi thọ trung bình đạt 75,5 tuổi, trong đó số năm sống khỏe tối thiểu 68 năm.
Trong lĩnh vực văn hóa, tỉnh phấn đấu chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,72; tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp văn hóa đạt 7%/năm; xây dựng 3 không gian văn hóa, sáng tạo, trải nghiệm. Các mô hình văn hóa số, sáng tạo nội dung số, nghệ thuật số, du lịch di sản thông minh, kinh tế đêm và không gian sáng tạo được định hướng triển khai phù hợp với điều kiện thực tế.
Về môi trường, Tuyên Quang đặt mục tiêu tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 26,1%; 100% khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; tỷ lệ che phủ rừng đạt 62,2%; 95% chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn.
Tỉnh cũng phấn đấu hoàn thành di dời 80% số hộ dân tại các khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất đến nơi an toàn.
Để hiện thực hóa các mục tiêu, Kế hoạch xác định 40 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trên các lĩnh vực. UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, đơn vị và UBND các xã, phường cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch công tác, xác định rõ nhiệm vụ, tiến độ, trách nhiệm và sản phẩm đầu ra; tăng cường kiểm tra, giám sát, phối hợp và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
Sở Tài chính được giao theo dõi, đôn đốc, tổng hợp kết quả thực hiện và báo cáo UBND tỉnh theo quy định.
Việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ được kỳ vọng từng bước hình thành mô hình phát triển mới, nâng cao chất lượng tăng trưởng, sử dụng hiệu quả nguồn lực, phát huy tiềm năng, lợi thế và tạo thêm động lực cho Tuyên Quang phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

