Tuyên Quang quyết tâm tìm hướng đi bền vững cho nông nghiệp hữu cơ
Với không gian phát triển mới sau hợp nhất giữa hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, cùng lợi thế lớn về sinh thái, lâm nghiệp, cây đặc sản và bản sắc vùng cao, Tuyên Quang đang đứng trước cơ hội quan trọng để tái định vị nông nghiệp hữu cơ. Tuy nhiên, để hướng đi này không dừng ở phong trào, địa phương cần lựa chọn đúng đối tượng, đúng vùng sản xuất, đúng mô hình tổ chức và đặc biệt phải gắn hữu cơ với thị trường, chứng nhận, truy xuất và thương hiệu.

Dư địa lớn nhưng hữu cơ chưa phát triển tương xứng
Tháng 4/2026, UBND tỉnh Tuyên Quang đã làm việc với Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam nhằm trao đổi, chia sẻ thông tin và đề xuất các nội dung hợp tác cụ thể trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh.
Trong bối cảnh Tuyên Quang sau hợp nhất đang mở rộng không gian phát triển, bao gồm cả những vùng có lợi thế rất lớn về rừng, cây đặc sản, dược liệu, cây ăn quả, chăn nuôi bản địa và sản phẩm thu hái tự nhiên, theo TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, tỉnh có nhiều thuận lợi để phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, nhất là ở các vùng rừng núi, nơi đất đai ở nhiều khu vực chưa bị tác động hóa học quá nặng như các vùng thâm canh lâu năm.
Từ thực tế đó, Chủ tịch Hiệp hội gợi mở cho địa phương hai hướng đi gồm tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ phù hợp và khai thác các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, sản vật thu hái tự nhiên dưới tán rừng.
Đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang cho biết đã tham mưu cho tỉnh ban hành Nghị quyết số 06, Nghị quyết số 03 của HĐND tỉnh cùng nhiều quyết định liên quan để thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ.
Giai đoạn 2020 - 2025, toàn tỉnh có trên 21.800 ha cây trồng sản xuất hữu cơ, trong đó phần lớn là chè Shan tuyết tại khu vực Hà Giang cũ với trên 21.300 ha. Các loại cây trồng khác như rau, lúa, cây ăn quả mới đạt trên 400 ha, còn chăn nuôi và thủy sản chưa có cơ sở nào áp dụng mô hình hữu cơ.
Tổng kinh phí cho hoạt động chứng nhận trong giai đoạn này đạt trên 158 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp tự chi trả trên 100 tỷ đồng, ngân sách nhà nước hỗ trợ trên 58,167 tỷ đồng. Theo báo cáo của ngành, qua kiểm tra 196 cơ sở, 100% đơn vị được kiểm tra đều tuân thủ quy định.
Tuy nhiên, những con số này cũng cho thấy một thực tế là phát triển hữu cơ của địa phương vẫn còn tập trung ở một số vùng, một số cây trồng nhất định, chưa lan tỏa đồng đều sang nhiều lĩnh vực có tiềm năng khác.
Nhiều ý kiến cho rằng Tuyên Quang đang đứng trước cơ hội lớn để tái tổ chức sản xuất theo hướng giá trị cao hơn. Với lợi thế sinh thái, lâm nghiệp và nông nghiệp hàng hóa, địa phương không thiếu dư địa để phát triển các mô hình hữu cơ gắn với nhận diện riêng. Nhưng từ tiềm năng đến hiệu quả thực tế là một khoảng cách không nhỏ. Không ít sản phẩm hiện vẫn tiêu thụ ở dạng thô, mẫu mã chưa hấp dẫn, thương hiệu chưa rõ nét, trong khi bài toán duy trì chứng nhận và tổ chức thị trường vẫn là sức ép lớn đối với người sản xuất.

Tồn tại những "điểm nghẽn" từ đồng ruộng đến thị trường
Mặc dù có nhiều lợi thế nhưng Tuyên Quang vẫn gặp không ít khó khăn, vướng mắc trong phát triển nông nghiệp hữu cơ. Cụ thể, số lượng và chủng loại sản phẩm hữu cơ còn ít; nhiều sản phẩm bán ở dạng nguyên liệu nên giá trị gia tăng chưa cao; nguồn hỗ trợ chứng nhận mới tập trung ở giai đoạn đầu khiến một số cơ sở còn tâm lý trông chờ vào Nhà nước.
Trong khi đó, địa bàn rộng, phân tán, tập quán canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số ở nhiều nơi còn lạc hậu, cộng thêm nỗi lo rủi ro thiên tai khiến việc áp dụng quy trình hữu cơ nghiêm ngặt không hề đơn giản.
Theo ông Phan Đăng Đông, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, tỉnh Tuyên Quang đã triển khai nhiều đề tài liên quan đến đánh giá tác động của thuốc bảo vệ thực vật, suy thoái cam và mô hình sản xuất cam, chè an toàn. Song theo ông Đông, một trong những trở ngại lớn nhất hiện nay vẫn là tình trạng lạm dụng thuốc diệt cỏ, yếu tố làm suy thoái đất về lâu dài và ảnh hưởng trực tiếp đến nền tảng của sản xuất hữu cơ.
Nếu không khôi phục được đất và không kiểm soát nghiêm việc tuân thủ quy trình thì truy xuất nguồn gốc hay mã QR cũng khó tạo ra giá trị thực.
Ở góc độ tổ chức sản xuất, ông Đỗ Tấn Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết địa phương đang định hướng tập trung vào 5 nhóm cây, con chủ lực gồm chè Shan tuyết, mật ong bạc hà, cá nước lạnh, cá bỗng và cây có múi như cam, bưởi. Đây là những sản phẩm vừa có lợi thế bản địa vừa có khả năng xây dựng giá trị khác biệt nếu được tổ chức lại theo hướng minh bạch, đạt chuẩn và gắn với thị trường.
Theo bà Mai Thị Hoàn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, Tuyên Quang có tiềm năng với các cây dược liệu dưới tán rừng như khôi nhung, bảy lá một hoa nhưng vẫn đang vướng nhiều rào cản về cơ chế, nhất là từ Chương trình mục tiêu quốc gia 1719 và một số quy định chuyên ngành, khiến việc triển khai dự án thực tế gặp không ít khó khăn.
Không chỉ đầu vào, thị trường cũng là một "nút thắt" lớn. Sở Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị Hiệp hội hỗ trợ đào tạo giảng viên nguồn cho cán bộ khuyến nông cơ sở; hỗ trợ xây dựng quy định kỹ thuật nội bộ theo hệ thống PGS; tư vấn cấp mã số vùng trồng, truy xuất bằng QR code; xúc tiến thương mại đưa nông sản vào các hệ thống bán lẻ lớn như VinMart, Bác Tôm; đồng thời hỗ trợ chứng nhận hữu cơ cho quế, thảo quả, chè và kết nối doanh nghiệp bao tiêu dài hạn.
Những đề xuất này cho thấy địa phương không chỉ cần thêm kỹ thuật mà đang cần cả một hệ sinh thái hỗ trợ hoàn chỉnh, từ sản xuất, kiểm soát chất lượng đến tiêu thụ.

Đại diện UBND tỉnh Tuyên Quang, Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam chụp ảnh lưu niệm sau buổi làm việc.
Mở hướng từ tiêu chuẩn phù hợp và mô hình điểm
Ông Phạm Mạnh Duyệt, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang, đã cho thấy rõ hơn tầm nhìn của ngành nông nghiệp địa phương sau hợp nhất.
Theo ông Duyệt, tỉnh đang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, trong đó riêng lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản phải đạt mức tăng trưởng 5,58% trong năm 2026. Muốn đạt mục tiêu này, ngành không thể phát triển theo lối cũ mà phải đi vào chiều sâu, tìm dư địa mới và nâng cao giá trị gia tăng. Một trong những định hướng đang được Sở rà soát là mỗi xã cần xây dựng ít nhất "3 cây, 3 con" mới để tăng giá trị sản xuất và mở rộng sinh kế cho người dân.
Cùng với lợi thế đang có về lâm nghiệp, trong đó Tuyên Quang hiện là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về cấp chứng chỉ rừng FSC, tỉnh đang tiếp tục khảo sát hàng loạt mô hình mới để từng bước áp dụng quy trình sản xuất hữu cơ. Nổi bật là mô hình trồng khoảng 500.000 cây sâm Ngọc Linh dưới tán rừng tại Phiêng Luông, bước đầu cho thấy tỷ lệ chiết xuất đạt khoảng 90% so với vùng trồng ở Quảng Nam.
Ngành Nông nghiệp và Môi trường cũng đang khảo sát mô hình chuối khép kín khoảng 50 ha tại Vĩnh Tuy, Hùng An, Bắc Quang, nơi doanh nghiệp tham gia bao tiêu toàn bộ sản phẩm từ quả, thân đến lá, còn phụ phẩm được tận dụng làm phân bón hữu cơ. Bên cạnh đó là vùng cam khoảng 15 ha ở Vĩnh Tuy, các vùng dâu nuôi tằm dọc sông Lô, sông Phó Đáy cùng những cây trồng mới như dẻ hạt lớn, mắc ca đang được khảo sát để mở rộng không gian phát triển.
Ở lĩnh vực chăn nuôi, tỉnh đang phối hợp với HTX Tiến Thành để phát triển bò Mông và gà Mông theo hướng nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu. Với mô hình gà Mông, địa phương đề nghị Hiệp hội hỗ trợ đánh giá đầu vào, hướng dẫn quy trình và từng bước xem xét chứng nhận hữu cơ nếu đủ điều kiện.
Theo ông Phạm Mạnh Duyệt, quan điểm của ngành là phát triển nông nghiệp hữu cơ phải "chọn đối tượng, chọn lĩnh vực, chọn hộ và chọn khu vực", không làm tràn lan, không làm phong trào mà phải bảo đảm hiệu quả thực chất.
Sở sẽ phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội để triển khai các dự án tại Hùng Lợi và Hòa An, đồng thời đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng bộ nhận diện sản phẩm và mở rộng thêm nhiều sản phẩm hữu cơ mới như bưởi Soi Hà, cá nước lạnh, gà Mông, bò Mông, chuối và cam.
Ông Hoàng Gia Long, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang, đề nghị ngành nông nghiệp tỉnh cần rà soát, đối chiếu lại tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp hữu cơ hiện có so với mục tiêu của Đề án 885, từ đó xác định rõ mức độ hoàn thành và dư địa cần tiếp tục phấn đấu trong thời gian tới.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang bày tỏ sự đồng tình và đánh giá cao bộ Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2024/VOAA, cho rằng đây là bộ tiêu chuẩn có nhiều điểm tiến bộ, khá phù hợp với điều kiện sản xuất nhỏ lẻ ở vùng cao khi bao quát cả thu hái tự nhiên, rau mầm, nuôi ong, công bằng xã hội và phúc lợi động vật.
Ông Hoàng Gia Long nhấn mạnh, ngành nông nghiệp tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam để lựa chọn mô hình thật kỹ, làm thật chắc, có kết quả thực chất rồi mới nhân rộng, tuyệt đối không làm theo phong trào. Theo ông, chỉ khi mô hình thành công, sản phẩm có giá trị cao hơn và người dân thấy rõ hiệu quả thì con đường nông nghiệp hữu cơ mới có thể phát triển dài lâu và bền vững tại Tuyên Quang.












