Tuyên Quang tính cách đưa 60 lít nước sạch/ngày tới mỗi người dân
Tuyên Quang đặt mục tiêu đến năm 2030 có 56,9% hộ nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn, tối thiểu 60 lít/người/ngày.
UBND tỉnh Tuyên Quang vừa ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045.
Theo kế hoạch, đến năm 2030, 56,9% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt chất lượng theo quy chuẩn với lượng tối thiểu 60 lít/người/ngày. Tỉnh cũng đặt mục tiêu 100% hộ gia đình nông thôn, trường học, trạm y tế có nhà tiêu hợp vệ sinh; 100% người dân nông thôn thường xuyên thực hiện vệ sinh cá nhân.
Ở lĩnh vực xử lý nước thải, Tuyên Quang phấn đấu 25% điểm dân cư nông thôn tập trung có hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt và 15% lượng nước thải sinh hoạt được xử lý. Đồng thời, 80% hộ chăn nuôi, trang trại phải xử lý chất thải chăn nuôi.
Đến năm 2045, tỉnh đặt mục tiêu 100% người dân nông thôn được sử dụng nước sạch và vệ sinh an toàn, bền vững. Tỷ lệ điểm dân cư nông thôn tập trung có hệ thống thu gom nước thải dự kiến đạt 50%, trong khi 30% nước thải sinh hoạt được xử lý và 100% hộ chăn nuôi, trang trại xử lý chất thải.
Để đạt các chỉ tiêu này, Tuyên Quang ưu tiên đầu tư công trình tạo nguồn nước sinh hoạt tại những khu vực khan hiếm nước, thường xuyên chịu hạn hán hoặc có nguy cơ ô nhiễm. Các công trình cấp nước sạch tập trung cũng được ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn và khu vực đồng bào dân tộc thiểu số.

Công trình nước sạch nông thôn ở Tuyên Quang. Ảnh: Cổng TTĐT tỉnh Tuyên Quang
Với các dự án cấp nước mới hoặc có khả năng làm thay đổi lớn chất lượng dịch vụ, giá nước, tỉnh yêu cầu khảo sát xã hội học và tham vấn cộng đồng. Nội dung khảo sát tập trung vào mức sống, khả năng đấu nối và mức sẵn sàng chi trả tiền nước của người dân.
Tuyên Quang cũng sẽ rà soát chính sách tín dụng hỗ trợ nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn; đầu tư bể chứa nước mưa và các hình thức trữ nước phù hợp từng khu vực. Chất lượng nguồn nước và nước sử dụng tại hộ gia đình được tăng cường kiểm tra, giám sát.
Đối với các công trình cấp nước tập trung đang hoạt động, tỉnh yêu cầu rà soát những công trình không hoạt động hoặc hoạt động kém hiệu quả để có phương án xử lý. Cộng đồng dân cư được tăng quyền tham gia quản lý, vận hành và giám sát công trình.
Tỉnh đồng thời thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi nguồn nước, chất lượng nước, số hóa và tự động hóa quản lý công trình. Nguồn lực thực hiện được huy động từ ngân sách nhà nước, các chương trình mục tiêu quốc gia, vốn vay ưu đãi, vốn ODA và các nguồn hợp pháp khác.
UBND các xã chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch cụ thể, huy động và lồng ghép nguồn lực, gắn nhiệm vụ cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn với chương trình xây dựng nông thôn mới và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

