Ung thư giai đoạn cuối có được miễn thi hành án tử hình?
Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam, chỉ áp dụng đối với những người phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng.
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành cũng quy định một số trường hợp nhân đạo, không thi hành án tử hình mặc dù bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Đáng chú ý, theo quy định mới của Bộ luật Hình sự, người bị kết án tử hình mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối sẽ không bị thi hành án.
Theo Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2025, tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật quy định.
Đồng thời, pháp luật cũng quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội; phụ nữ có thai; phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; hoặc người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

Ảnh minh họa.
Đối với trường hợp người đã bị kết án tử hình, khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự quy định không thi hành án tử hình nếu người đó thuộc một trong các trường hợp sau: phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; người đủ 75 tuổi trở lên; người mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối.
Như vậy, nếu sau khi bản án tử hình đã có hiệu lực mà người bị kết án được xác định mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối thì sẽ không bị thi hành án tử hình.
Đây là quy định thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước trong việc thi hành án hình sự. Việc không thi hành án tử hình không đồng nghĩa với việc người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự hay được trả tự do.
Theo khoản 4 Điều 40 Bộ luật Hình sự, trong các trường hợp nêu trên hoặc khi người bị kết án tử hình được Chủ tịch nước quyết định ân giảm, hình phạt tử hình sẽ được chuyển thành hình phạt tù chung thân.
Việc chuyển hình phạt từ tử hình sang tù chung thân không đồng nghĩa với việc được giảm án ngay. Điều 63 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định rất chặt chẽ về điều kiện giảm thời hạn chấp hành hình phạt.
Theo đó, người bị kết án tù chung thân nếu có nhiều tiến bộ trong quá trình cải tạo, đã chấp hành hình phạt trong thời gian luật định và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự thì có thể được Tòa án xem xét giảm thời hạn chấp hành án theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền.
Riêng đối với người bị kết án tử hình nhưng được ân giảm hoặc thuộc trường hợp không thi hành án tử hình theo khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự (trong đó có trường hợp mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối), thời gian để được xét giảm án lần đầu là 25 năm.
Sau khi được giảm nhiều lần, người này vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành hình phạt ít nhất là 30 năm mới đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Như vậy, mặc dù không bị thi hành án tử hình vì mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối, người bị kết án vẫn phải chấp hành hình phạt tù chung thân và chỉ được xem xét giảm án khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện, thời gian theo quy định của Bộ luật Hình sự. Quy định này vừa bảo đảm tính nhân đạo của pháp luật, vừa giữ vững tính nghiêm minh trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
