Ung thư vú: Những điều cần biết và cách phòng ngừa

Ung thư vú ngày càng phổ biến ở nữ giới. Bên cạnh nhận biết sớm và điều trị, chế độ ăn nhiều rau quả, đậu và chất xơ được chú ý trong phòng bệnh.

Tác giả: VS GS TSKH Đái Duy Ban

Dinh dưỡng trong phòng chống ung thư

Với mong muốn tổng hợp kiến thức phục vụ tra cứu lâm sàng, tác giả Đái Duy Ban đã trình bày cuốn sách thành các phần chính: Tổng quan về ung thư; Dinh dưỡng phòng chống bệnh ung thư; Lương thực, thực phẩm phòng tránh các loại ung thư

Ung thư vú: Những điều cần biết và cách phòng ngừa

Ung thư vú ngày càng phổ biến ở nữ giới. Bên cạnh nhận biết sớm và điều trị, chế độ ăn nhiều rau quả, đậu và chất xơ được chú ý trong phòng bệnh.

I. Đặc điểm của ung thư

1. Tỷ lệ

Ung thư vú là ung thư phổ biến và ngày càng tăng ở nữ giới. Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, tỷ lệ mới mắc ung thư tăng nhẹ trong các năm gần đây, ở mức 0,3% mỗi năm. Ung thư vú là ung thư gây tử vong nhiều nhất trong các ung thư ở phụ nữ.

Tại châu Âu và Mỹ, tỷ lệ tử vong do ung thư vú là khoảng 14 trên 100.000 người, con số này ở Nhật là khoảng 9 trên 100.000 người. Ung thư vú ít gặp dưới 25 tuổi, tỷ lệ mắc tăng dần theo độ tuổi. Ở Việt Nam, ung thư vú cũng đang trong xu hướng tăng dần.

Nam giới cũng mắc ung thư vú nhưng rất hiếm gặp.

2. Nguyên nhân

Ung thư vú có liên quan tới một số yếu tố:

– Ăn nhiều trứng, sữa, mỡ, thịt, rượu, bia.

– Tiền sử gia đình có ung thư vú là quan trọng. Nếu có mẹ con, chị em ruột bị ung thư vú thì bản thân người phụ nữ đó có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với bình thường.

– Nội tiết và sinh sản: chưa sinh con lần nào càng có nguy cơ bị. Hành kinh sớm, đẻ con muộn cũng dễ bị. Phụ nữ độc thân, nữ tu sĩ có tỷ lệ mắc ung thư vú cao hơn.

– Béo bệu.

3. Triệu chứng

– Tiết dịch ở đầu vú có thể lẫn máu.

– Sờ thấy có u không đau, lúc u nhỏ thì di động, lớn thì xâm lấn vào da, kéo tụt núm vú.

– Có thể có hạch nách, thượng đòn.

4. Chẩn đoán

– Dựa vào triệu chứng có u vú, có hạch.

– Dựa vào sinh thiết u, làm giải phẫu bệnh lý xem tế bào nhân quái nhân chia.

5. Di căn

– Hạch nách, hạch thượng đòn.

– Di căn xa vào phổi, gan, xương não.

6. Điều trị

– Phẫu thuật lấy u.

– Tia xạ.

– Sau đó xử lý thêm hoá chất Vincristin, Adiamylin.

– Dùng thêm các tiết tố như Estrogen, Tamoxifen.

7. Phòng bệnh

– Ăn ít mỡ, không uống rượu.

– Ăn nhiều rau quả, đậu.

– Khám vú thường xuyên để phát hiện kịp thời.

 Chế độ ăn nhiều rau quả, đậu và chất xơ được chú ý trong phòng bệnh. Ảnh minh họa: Vanessa Loring/Pexels.

Chế độ ăn nhiều rau quả, đậu và chất xơ được chú ý trong phòng bệnh. Ảnh minh họa: Vanessa Loring/Pexels.

II. Một số lương thực, thực phẩm có khả năng phòng chống ung thư vú

Trước hết có thể kể một vài y văn liên quan đến vấn đề phòng chống ung thư vú.

Theo một cuộc nghiên cứu năm 1949 ở Nhật, việc tiêu thụ sữa và các sản phẩm sữa đã tăng lên gấp từ hai đến ba lần, thịt 13,7 lần, trứng 29 lần và dầu 7,8 lần. Trong khi tỷ lệ ung thư dạ dày đang giảm dần thì mức ung thư vú và ruột trên cơ bản lại tăng lên.

Cuộc nghiên cứu năm 1989 với 250 phụ nữ mắc bệnh ung thư vú ở phía Tây Bắc tỉnh Vercelli, Ý đã cho thấy rằng họ là những người hay tiêu thụ một số lượng lớn sữa, phomat nhiều chất béo, bơ nhiều hơn so với 499 phụ nữ khoẻ mạnh cùng lứa tuổi ở Ý và Pháp. Nguy cơ ung thư vú tăng gấp ba lần trong những phụ nữ tiêu thụ nhiều chất béo và đạm động vật.

Trong các phòng thí nghiệm, các nhà khoa học của tổ chức sức khỏe Mỹ, năm 1991 đã khám phá rằng chế độ ăn uống giàu chất xơ sẽ làm giảm nguy cơ gây ung thư ở chuột khoảng 50%. Điều đó nói lên ngũ cốc, đậu và các thức ăn giàu chất xơ khác có thể giúp ngăn ngừa ung thư.

[...] Chính là trong đó có chất genistein - một chất tự nhiên có thể ngăn cản sự phát triển của những mạch máu nuôi khối u.

Có thể kể ra một trong số những trường hợp nhờ các nguồn lương thực, thực phẩm để phòng chống ung thư vú bị di căn. Theo y văn đã ghi lại, bà Anna Kramer bị ung thư vú. Năm 1986, bà đã phải cắt hết vú trái.

Bác sĩ lại phát hiện có bốn hạch bạch huyết bị di căn của u carcinoma và một khối u bé làm nghẽn mạch. Đồng thời xét nghiệm cholesterol máu tăng lên 243. Các bác sĩ đề nghị phải tiếp tục hóa trị liệu một năm hoặc có khi còn hơn nữa.

Bà đọc một tài liệu nghiên cứu khoa học liên quan đến chế độ ăn nhiều mỡ và bệnh ung thư vú, cũng như một bài báo nói về những phụ nữ Nhật Bản ăn uống theo truyền thống thì ít bị bệnh ung thư vú. Bà Ann quyết tâm đi theo phương pháp dinh dưỡng này. Công thức nấu ăn của ông Kushi nhẹ nhàng làm bà thanh thản đi theo.

Sau hai tháng đeo đuổi chế độ ăn đó, bà Anne đi xét nghiệm tia X trên vú phải và thấy khối u đã vôi hoá và biến mất. Trong bảy năm, bà Anne vẫn khoẻ mạnh. Những lần chụp lại tia X vú, cắt lớp xương, chụp X quang vòng ngực và xét nghiệm máu... đều không phát hiện được dấu vết của ung thư. Năm 60 tuổi, nồng độ cholesterol của bà là 170. Bà phấn khởi và chế độ ăn uống đã giúp bà hiểu giá trị cuộc sống.

VS GS TSKH Đái Duy Ban

Med Insight và NXB Thế giới

Nguồn Znews: https://znews.vn/ung-thu-vu-nhung-dieu-can-biet-va-cach-phong-ngua-post1680871.html