Ước mơ bên kia sông Bung
Sương sớm bảng lảng trên sông Bung, con đò nhỏ chở vài người dân và mấy bao hàng lặng lẽ rời bến, bắt đầu một ngày mưu sinh mới. Hàng chục năm nay, 72 hộ dân thôn Đầu Gò (xã Thượng Đức) vẫn sống trong cảnh 'lụy đò'. Mọi việc từ đến trường, đi bệnh viện đến cưới hỏi, tang ma… đều phải nhờ vào chiếc đò.

Thôn Đầu Gò với 72 hộ dân nằm nép mình bên dòng sông Bung. Ảnh: N.T
Giữa nhịp phát triển từng ngày của thành phố, người dân nơi đây vẫn đau đáu một ước mơ có một cây cầu để thôi cảnh cách trở đôi bờ.
Ngôi làng bên kia dòng nước
Từ trung tâm xã Thượng Đức, muốn đến thôn Đầu Gò phải đi qua một đoạn đường dài quanh co giữa những triền núi xanh ngắt. Đứng từ bờ bên này nhìn sang, ngôi làng hiện ra thấp thoáng dưới những tán cây. Khoảng cách chỉ mấy trăm mét, vậy mà cảm giác như thuộc về một thế giới khác. Phía sau là núi cao dựng đứng, phía trước là dòng sông Bung sâu và rộng. Địa hình đặc biệt ấy khiến Đầu Gò giống như một “ốc đảo” bị cô lập suốt nhiều thập kỷ.
Những đứa trẻ sinh ra ở Đầu Gò lớn lên cùng hình ảnh chiếc đò chòng chành trên sóng nước. Người già trong làng cũng đã dành gần trọn cuộc đời ước mơ và chờ đợi một cây cầu, nhưng chưa thành hiện thực.
Con đò nhỏ chỉ chở được vài người cùng một số hàng hóa. Mỗi chuyến vượt sông kéo dài chừng mười phút. Khoảng thời gian ấy tưởng ngắn ngủi, nhưng với người dân Đầu Gò lại chứa đựng biết bao nỗi lo.
Ngồi bên mạn thuyền trong chiếc áo cũ sờn vai, bà Nguyễn Thị Tố (70 tuổi) đưa ánh mắt mờ đục nhìn về phía bờ bên kia. Giọng bà trầm buồn như hòa cùng tiếng sóng: “Cái chi cũng phải lụy đò con ơi! Trẻ con đi học, người bệnh đi viện, đám cưới, đám tang… đều nhờ vô con đò này hết. Ngày nắng ráo thì còn đỡ, chứ mưa lũ nước dâng cao là cả làng bị cô lập hoàn toàn. Khi đó bên này có chuyện chi thì chỉ biết nhìn qua sông mà khóc thôi…!”.
Bà Tố kể, ngày trước vùng đất này thuộc xã Đại Sơn, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam cũ, nay sáp nhập về xã Thượng Đức. Địa giới hành chính có thể đổi thay, nhưng nỗi khổ vì địa hình chia cắt vẫn nguyên vẹn như một vết hằn lên đời sống người dân. Người già trong làng nằm xuống, chiếc quan tài cũng phải chòng chành vượt sông trên chiếc đò nhỏ. Những đứa trẻ vừa biết đi đã phải học cách giữ thăng bằng trên mạn thuyền để tìm con chữ nơi bờ bên kia.
Ánh mắt bà Tố xa xăm khi nhắc về những đêm đông lạnh buốt có sản phụ trở dạ bất ngờ. Cả làng hò nhau đốt đuốc, trải chiếu, khênh người ra bến nước. Người lái đò đang ngủ nghe tiếng gọi thất thanh liền bật dậy nổ máy lao ra. “Có chuyến kịp tới viện thì mẹ tròn con vuông. Nhưng cũng có chuyến không kịp…”, bà Tố bỏ lửng câu nói rồi lặng im nhìn xuống dòng nước đang lững lờ trôi.
Nỗi lụy đò ở Đầu Gò không chỉ là câu chuyện mưu sinh, mà còn là rào cản của những giấc mơ. Nơi đây, chuyện “đẻ rớt”, không còn xa lạ.
Anh Mai Văn Công (38 tuổi) vẫn chưa quên những lần vợ mình trở dạ giữa đêm mưa lớn cách đây nhiều năm. Nước sông dâng cao, con đò phải chờ rất lâu mới dám qua. “Đứa đầu vừa cập bờ bên kia là vợ tôi sinh ngay trên đường. Đứa sau thì còn chưa kịp lên xe, sinh luôn ở bến đò”, anh kể, giọng vẫn còn nguyên sự ám ảnh.
Ở Đầu Gò không có trường cấp 2, cấp 3, chỉ có điểm trường ghép dành cho mầm non và tiểu học. Muốn tiếp tục học, lũ trẻ phải sang sông rồi đi xa hàng chục cây số. Đầu tuần, cha mẹ đưa con ra bến chờ đò. Cuối tuần lại ngóng con trở về. Con đường đến trường của những đứa trẻ nơi đây bắt đầu bằng tiếng máy đò nổ vang giữa sương sớm.
Anh Công nói rằng lũ trẻ nơi đây đứa nào cũng ham học. Bởi chúng hiểu chỉ có học mới mong thoát khỏi vòng lẩn quẩn của nghèo khó và cách trở. “Cha mẹ cực khổ nên tụi nhỏ thương lắm. Chúng tự nhủ phải học để sau này có cuộc sống khá hơn”, anh Công nói.

Một góc thôn Đầu Gò. Ảnh: N.T
Ước mơ về một cây cầu
Con sông Bung hiền hòa ngày nắng, nhưng lại hóa thành “bức tường” dữ dằn cắt đứt lưu thông qua lại vào mùa mưa. Đò ngừng chạy, điện chập chờn, sóng điện thoại mất liên lạc. Cả thôn bị cô lập giữa mênh mông nước lũ. “Mấy năm trước, một người đàn ông trong thôn bị đau ruột thừa trong đêm, nhưng thời điểm đó mưa to, nước chảy xiết, không ai dám chèo đò. Vì không kịp đến cơ sở y tế nên đã không qua khỏi. Cũng tội lắm, mà biết kêu ai?”, bà Nguyễn Thị Huệ (53 tuổi) nói, giọng chùng xuống.
Không chỉ tính mạng con người bị đe dọa, mùa lũ còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của cả thôn. Mỗi lần nghe thông báo xả lũ từ thủy điện, người dân lại tất bật gom góp tài sản, đưa gia súc lên chỗ cao hơn rồi chạy vào núi trú tạm, những ngôi nhà nhỏ nằm lặng lẽ bên bờ sông bị bỏ lại phía sau. “Nhiều tài sản tích góp cả năm cùng với heo, gà, vịt… có thể bị cuốn trôi chỉ sau một đêm nước lớn là chuyện thường ở Đầu Gò. Sống riết rồi cũng quen, nhưng buồn lắm!”, bà Huệ nói với giọng trầm tư.
Người dân Đầu Gò sống chủ yếu bằng nghề trồng keo, trồng thơm (dứa). Đất đai cằn cỗi, nắng gió khắc nghiệt. Được mùa thì bị ép giá, mất mùa coi như trắng tay. Vì thế, cái nghèo cứ đeo bám từ đời này sang đời khác.
Những người đàn ông ở Đầu Gò lớn lên cùng tiếng máy đò bên sông Bung. Phụ nữ trong làng thì quen với cảm giác đứng bên bến nước chờ chồng con trở về mỗi chiều muộn. Họ đã quen với cảnh dậy từ tinh mơ để kịp chuyến đò đầu tiên. Nhưng quen không có nghĩa là thôi hy vọng. “Thế hệ mình khổ rồi. Giờ chỉ mong con cháu sau này có cơ hội đi xa hơn, ổn định hơn, chứ đừng quanh quẩn bên này mãi. Ước vọng lớn nhất của dân mình là có một cây cầu. Một cây cầu để lũ trẻ tới trường an toàn hơn. Một cây cầu để người bệnh không thấp thỏm giữa đêm mưa. Một cây cầu để ngôi làng này thôi cảnh bị cô lập”, bà Huệ trải lòng.
Người dân kể rằng họ từng nhiều lần nghe tin sắp có cầu. Những cuộc khảo sát rồi cũng qua đi. Bản vẽ từng được nhắc đến trong các cuộc họp dân, nhưng vẫn chỉ nằm trên giấy. Thời gian trôi, con đò già đi theo năm tháng, còn người dân thì tiếp tục chờ đợi. “Mấy năm trước cũng có một số đoàn về khảo sát làm cầu rồi, nhưng lâu quá vẫn chưa thấy chi. Chắc do kinh phí lớn, trong khi dân ít quá nên còn chờ….”, bà Huệ nói trong tiếng thở dài.
Người giữ nhịp nối đôi bờ
Buổi trưa những ngày đầu tháng Sáu, nắng phủ vàng óng mặt sông Bung. Con đò lại lạch bạch cập bến, chở theo vài bao phân bón, ít vật liệu xây dựng và mấy chiếc xe máy dựng chen chúc trên khoang.
Người lái đò đã ngoài 60 tuổi, nước da sạm đen vì nắng gió, cho biết nghề lái đò cực lắm nhưng không thể bỏ. “Nếu nghỉ thì dân làng không biết đi bằng chi…”. Điều ông sợ nhất là mùa mưa. “Nước lớn, sóng mạnh, nhiều hôm cả ngày không dám chạy. Nhưng bà con cần thì mình vẫn cố”, ông nói, tay vẫn giữ chặt cần lái.
Hơn ai hết, người lái đò hiểu rằng con sông Bung không chỉ ngăn cách hai bờ đất, mà còn ngăn cách cả cơ hội, tri thức và tương lai của một vùng quê. Ông bảo, người dân nơi đây không mơ những điều cao sang. Họ chỉ mong một ngày nào đó, tiếng máy nổ tạch tạch của con đò cũ kỹ sẽ được thay bằng tiếng xe chạy rộn rã trên cây cầu bê tông kiên cố. Để một ngày nào đó, con sông Bung sẽ thôi là ranh giới của sự chia cắt.
Con sông Bung không quá rộng, nhưng đủ để tạo nên khoảng cách giữa hai bờ. Khoảng cách ấy hiện hữu trong từng bước chân học trò mỗi sáng, trong ánh mắt lo âu của người mẹ mùa mưa lũ, trong tiếng thở dài của những người già cả đời chờ một cây cầu nhưng chưa thành hình.
Một lãnh đạo UBND xã Thượng Đức cho biết, chính quyền địa phương nhiều năm qua luôn trăn trở về câu chuyện đi lại của người dân thôn Đầu Gò. Việc chưa có cầu ảnh hưởng lớn đến đời sống dân sinh, giao thương và công tác cứu hộ cứu nạn mùa mưa bão. “Người dân chịu rất nhiều thiệt thòi vì bị ngăn cách bởi sông Bung. Chính quyền địa phương cũng rất mong sớm có nguồn lực đầu tư xây dựng cầu để bà con đi lại thuận lợi, an toàn hơn”, vị lãnh đạo nói.
Chúng tôi rời thôn Đầu Gò khi màn đêm dần nuốt trọn dòng sông Bung. Bến đò phía sau lùi dần vào bóng tối, chỉ còn tiếng máy nổ khàn đục vang vọng. Nhưng phía bên kia bờ, khói lam từ những mái nhà nhỏ bay lên quyện vào ánh hoàng hôn.
Và cũng như dòng Bung chưa bao giờ ngừng chảy, mong mỏi về một cây cầu nối đôi bờ vẫn âm thầm hiện hữu trong từng câu chuyện, từng ánh mắt của người dân nơi đây.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/uoc-mo-ben-kia-song-bung-3340427.html











