Văn hóa Hồ Chí Minh: Chuyện của một người - chuyện của cả dân tộc
Dù chỉ với hơn 100 trang nhưng 'Văn hóa Hồ Chí Minh' (Hà Minh Đức, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2025) đã đi 'xuyên' qua 8 vấn đề: văn hóa học đường, văn hóa và đời sống xã hội, văn hóa ứng xử, văn hóa báo chí, văn hóa văn nghệ, văn hóa quân sự, văn hóa đổi mới và văn hóa tuyên giáo... Đây là một công trình đầy cảm hứng về tư tưởng, đạo đức, phong cách của vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng văn hóa và việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam. Hệ thống các quan điểm, lý luận về văn hóa trong Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết tinh của những giá trị văn hóa phương Đông và phương Tây, của truyền thống và hiện đại, của dân tộc và quốc tế.
Từ sự kết tinh những giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở đường, xây dựng nền văn hóa mới - văn hóa thời đại Hồ Chí Minh, qua đó đóng góp vào sự phát triển văn hóa của thế giới.
GS, Nhà giáo Nhân dân (NGND) Hà Minh Đức đã chỉ ra rằng: Hồ Chí Minh luôn coi văn hóa là một “vũ khí”, một “công cụ”. Người là điển hình trong việc sử dụng ngoại ngữ như một phương tiện cần thiết và hiệu quả. Trong những năm đầu xa Tổ quốc, lênh đênh nơi xứ người, ngày đi làm kiếm sống, đêm Người tự học tiếng Anh. Sang Pháp, Người không ngừng nâng cao trình độ tiếng Pháp, và đã viết “Bản yêu sách của Nhân dân An Nam” gửi lên Hội nghị Versailles; tại Đại hội Tour, tranh luận và phê phán các thành viên của Đảng xã hội Pháp có nhận thức sai lầm về phong trào đấu tranh ở các nước thuộc địa.
Đầu những năm 1920 đến trước khi sang Liên Xô, đảm nhận chủ bút, chủ nhiệm báo “Người cùng khổ”, Người đã học tiếng Nga. Từ Nga sang Trung Quốc, Người đã có những năm tháng hoạt động sôi nổi: thành lập các tổ chức yêu nước, xuất bản báo, tạp chí, mở các lớp huấn luyện cán bộ cho cách mạng, tham gia đội diễn thuyết, tuyên truyền trong phong trào cách mạng Trung Quốc... với ngôn ngữ tiếng Trung. Thậm chí, Người còn trở thành chiến sĩ Bát lộ quân và nhận nhiệm vụ phụ trách điện đài cho một đơn vị quân đội với biệt danh là Hồ Quang.
Đặt vấn đề văn hóa học đường lên hàng đầu, như yêu cầu căn cốt nhất của xã hội, đồng thời cũng là sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ thể là việc diệt “giặc” dốt, việc học hành của thế hệ trẻ. Trong bài “Trả lời các nhà báo nước ngoài”, Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Và ngay trong thư gửi các em học sinh (tháng 9/1945) cũng như bài nói tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II (7/5/1954), Người đã động viên các em vui vẻ đến trường học tập trong ngày khai giảng đầu tiên trên toàn quốc, nhắc nhở các em học sinh phổ thông “ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước”.
Về văn hóa với đời sống con người, dù cách mạng đã hiện thực hóa mong ước tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là đất nước độc lập, tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, và được học hành. Tuy nhiên, Người chưa yên lòng khi vẫn còn có những nỗi buồn, nỗi đau khổ của người phụ nữ, người già chưa được chăm sóc chu đáo. Thông qua các câu chuyện, dẫn chứng, GS Hà Minh Đức cho biết, vấn đề đời sống mà Hồ Chủ tịch quan tâm còn là nạn tảo hôn, mà nạn nhân là những em gái vị thành niên, thậm chí còn ở tuổi thiếu niên, nhi đồng. “Như vậy những chuyện buồn, đau khổ của người phụ nữ trong xã hội đã chạm đến sự thương cảm của Người và Người yêu cầu các cấp chính quyền, đoàn thể, và bản thân người phụ nữ cần có biện pháp để bảo vệ quyền lợi của mình”.
Về văn hóa ứng xử, GS Hà Minh Đức gọi tên Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh như một cách định vị vai trò và hình mẫu của một lãnh tụ. Trong 30 năm hoạt động ở nước ngoài, cũng như những năm tháng trên cương vị lãnh đạo đất nước, tiếp xúc gặp gỡ với biết bao người, Người đặc biệt kính trọng các bậc cao niên, những trí thức yêu nước có công với cách mạng. Khi cụ Nguyễn Văn Tố qua đời, Bác viết một bài văn tế. Một lần trong những năm kháng chiến chống Pháp, cụ Võ Liêm Sơn đến thăm, Bác ân cần tiếp đón và khi chia tay còn tặng cụ bài thơ. Hay mối quan hệ giữa Bác và GS Nguyễn Khánh Toàn thân tình đến mức khi GS nhắc đến việc xây dựng gia đình riêng của Bác, chân tình và thẳng thắn, Bác nói bằng tiếng Nga: “Đây là một việc khó khăn. Bác già rồi, thôi từ nay không được nhắc đến chuyện đó nữa”. Và cả với những vị khách quý người nước ngoài, như cuộc gặp với nữ nhà báo Pháp Medeleine Riffaud, nhà thơ Nga Pavel Antokolsky, hay nhà văn Trung Quốc Quách Mạt Nhược... Bác đều thể hiện sự gần gũi, tôn trọng. Đồng thời, với người được gặp Bác Hồ, họ coi đó là may mắn, là một kỷ niệm – một hạnh phúc trong đời.
Hồ Chí Minh là nhà báo lớn của dân tộc. Ngay từ năm 1919, với bút danh Nguyễn Ái Quốc, Người đã viết nhiều bài phê phán, vạch trần chủ nghĩa thực dân Pháp. Người cũng không ngần ngại bày tỏ ý kiến gửi đến những quan chức cao cấp của nước Pháp qua các bài viết. Trong những năm hoạt động ở Liên Xô, Trung Quốc, Người đều có những bài báo gắn với trách nhiệm được giao phó, trực tiếp nói lên tiếng nói đanh thép phê phán tội ác của thực dân, đế quốc.
Câu chuyện một nhà báo xin được hỏi kinh nghiệm làm báo của Bác. Bác đã chia sẻ: “Kinh nghiệm 40 năm là không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì phải cố gắng học, mà cố gắng học thì nhất định học được”. Ngoài trách nhiệm lớn là nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người cũng không quên sự nghiệp báo chí cách mạng. Với các bút danh C.B; Đ.X; Trần Lực; T.L; Chiến sĩ... Người luôn đặt vấn đề văn hóa báo chí ở vị trí quan trọng.
Về vấn đề văn hóa của văn nghệ, nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951 của các họa sĩ, Người viết: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự Nhân dân, trước hết là công, nông, binh”. Vừa khẳng định vai trò của “chiến sĩ nghệ thuật”, Người vừa yêu cầu: “Quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại chúng ta”.
Về văn hóa và đổi mới: Đổi mới là bí quyết, là chiến lược, là mệnh lệnh cho sự phát triển của quốc gia – dân tộc. Văn hóa và đổi mới theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa có ý nghĩa thời sự vừa là nhiệm vụ chiến lược lâu dài gắn liền với tình hình văn hóa của đất nước trong những năm đầu cách mạng, được thể hiện qua các tác phẩm lý luận sâu sắc và những bài học thực tiễn. Bác trình bày quan điểm từ những bài báo thời sự đến các tác phẩm Đời sống mới, Sửa đổi lối làm việc, và đã chỉ ra những điều sẽ cản trở việc đổi mới này trong các bài viết: “Phải tẩy sạch quan liêu”; “Bỏ cách làm tiền ấy đi”...
Về văn hóa quân sự, trong lịch sử, Việt Nam suốt hàng nghìn năm luôn bị kẻ thù phương Bắc dòm ngó, xâm chiếm, song chúng đều phải chịu những thất bại đau đớn, nổi bật là trong các trận Bạch Đằng, Lam Sơn, Đống Đa... Những chiến thắng ấy có được nhờ nghệ thuật và văn hóa quân sự, đặc biệt là phương pháp nghi binh và tiến công bất ngờ. Những chiến thắng trong lịch sử đó đã gợi ý cho Người nhiều điều về nghệ thuật quân sự. Trong hoàn cảnh ngục tù, Người viết bài “Học dịch kỳ” (Học đánh cờ) - một trò giải trí đòi hỏi người chơi phải có mưu trí. Thế cờ như thế trận, có chủ tướng, có lực lượng với các binh chủng xe, pháo, mã cho đến hàng tốt – bộ binh. Muốn tấn công thắng lợi phải chủ động phán đoán tình hình.
Văn hóa trong công tác tuyên giáo, đây cũng là một lĩnh vực được Bác Hồ quan tâm, chăm lo và trực tiếp truyền bá Chủ nghĩa Mác – Lênin vào nước ta, mở các lớp tập huấn cán bộ, xây dựng lực lượng làm công tác tư tưởng tuyên truyền. Người sử dụng công tác tuyên truyền như một vũ khí sắc bén để phục vụ sự nghiệp cách mạng của Nhân dân lao động. Những bài viết: Tuyên truyền; Tuyên truyền và cách tuyên truyền; Lòng tin tưởng; Thư gửi các chiến sĩ cảm tử quân thủ đô... đã cho thấy vấn đề quyết định cho mọi hành động cao cả dẫn đến thành công chính là sự tin tưởng, và để nuôi dưỡng, củng cố lòng tin tưởng đó là nhiệm vụ của công tác tuyên truyền.
GS Hà Minh Đức đã từng tâm sự: Văn hóa Hồ Chí Minh được tôi viết trong nhiều năm. Mỗi ý tứ đều được chọn lọc từ những tác phẩm mang yếu tố văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau đó, tiếp tục phân tích và tổng hợp. Viết về một con người đã khó, viết về lãnh tụ càng khó hơn. Dù có nhiều đầu sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng với GS Hà Minh Đức: “Cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chủ tịch vẫn là đề tài chưa thể nào vơi cạn. Tôi chỉ tiếc là mình đã “chân yếu, mắt mờ, tóc bạc”.
Gấp cuốn sách lại, gương mặt hiền từ của vị cha già kính yêu như vẫn hiện ra, nhìn nhẹ nhàng và mỉm cười. Mỗi câu chuyện về Bác Hồ cũng đồng thời nhắc chúng ta về một giai đoạn lịch sử của dân tộc. Và nhờ có sự chỉ đạo của Bác, với trái tim hướng về Bác, dân tộc Việt Nam đã đi qua những cuộc trường chinh, trở thành một nước Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
Những câu chuyện có thể chúng ta đã từng được nghe, nhưng mỗi lần nghe lại càng thêm một lần thấm thía, càng thêm một lần yêu Bác hơn.











