Văn 'Phiếm Ái xã' và 'Phiếm Ái châu' ở xứ Quảng xưa
Lâu nay, khi nghiên cứu về xứ Quảng xưa, nhiều người có sự băn khoăn giữa danh xưng “Phiếm Ái xã” và "Phiếm Ái châu”. Đây là hai đơn vị hành chính riêng biệt hay chỉ là một? Có phải “Phiếm Ái xã” bao trùm cả hai làng Mỹ Phiếm, Phiếm Ái ngày nay?

Đình làng Phiếm Ái (xã Đại Lộc). Ảnh: V.T
Trả lời các câu hỏi khá lý thú này, thiết nghĩ là dịp để hiểu sâu thêm về đất và người xứ Quảng trong lịch sử hình thành hơn 5 thế kỷ…
Phiếm Ái xã
Phiếm Ái xã là một làng cổ, trước đây thuộc xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Đại Lộc, thành phố Đà Nẵng. Phiếm Ái lần đầu tiên được nhắc đến với tư cách là một trong số 66 xã của huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa trong sách Ô châu cận lục (năm 1553) của TS Dương Văn An.
Sang thời các chúa Nguyễn, sách Phủ biên tạp lục, do Lê Quý Đôn viết năm 1776, cho biết Phiếm Ái là một trong 14 xã của huyện An Nông thuộc phủ Điện Bàn.
Theo Địa bạ triều Nguyễn lập thời Gia Long (1812), xã Phiếm Ái thuộc tổng Đức Hòa Thượng, huyện Hòa Vang, phủ Điện Bàn. Đông giáp xã Ái Nghĩa, thôn Hòa Mỹ, phường Đông Phúc, châu Phiếm Ái; tây giáp châu Bảo Sơn; nam giáp phường Đông Phúc; bắc giáp xã Ái Nghĩa. Diện tích là 397 mẫu 8 sào.
Tương truyền, danh xưng “Phiếm Ái” chỉ ngôi làng nằm ven vùng sông nước (Vu Gia) và nhân dân ở đó yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, khi ghép nghĩa của chữ “Phiếm” (có bộ thủy) có nghĩa chèo thuyền và chữ “Ái” được hiểu theo nghĩa yêu thương, đùm bọc. Cũng có ý kiến diễn giải: Phiếm Ái có nguồn gốc từ sách Luận ngữ có câu "Phiếm ái chúng nhi thân nhân" (yêu thương rộng khắp mọi người, gần gũi người nhân đức). Trong trường hợp này, chữ “Phiếm” có nghĩa rộng khắp, phổ biến.
Theo Quốc triều hương khoa lục của Cao Xuân Dục, dưới triều Nguyễn, Phiếm Ái là một trong số ít làng của huyện Đại Lộc có người đỗ đạt cao (4 cử nhân), trong đó Phan Trí Hòa là cử nhân khai khoa của Đại Lộc (đỗ khoa Giáp Ngọ 1834). Thân phụ ông là Kế Thiện Hầu Phan Văn Nguyên, năm Minh Mạng thứ 6 (1825) từng được cử ra Bắc “nhận việc tạo tác Bắc Thành”, tức quản lý việc xây dựng Bắc Thành - một công việc quan trọng của triều đình bấy giờ. Mộ cụ Phan Văn Nguyên đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2019.
Đình làng Phiếm Ái tương truyền được xây dựng lần đầu vào năm Gia Long thứ 2 (1803) tại Bến Đình. Sau vài năm, do sông Vu Gia bị sạt lở, đình làng được di dời về Miếu Lầu, cạnh Miếu Tam Vị, thuộc khu vực phía tây của làng. Mãi đến năm Tự Đức thứ 31 (1878), ngôi đình lại được di dời ra phía bắc của làng và ổn định cho đến nay.
Đình làng Phiếm Ái là nơi khởi phát phong trào chống sưu cao, thu thuế nặng của tỉnh Quảng Nam và Trung Kỳ vào năm Mậu Thân 1908. Năm 2017, Đình làng Phiếm Ái được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia.
Phiếm Ái châu
Theo nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn (phần dinh Quảng Nam, tập 1, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2010) của Nguyễn Đình Đầu, vào năm Gia Long thứ 11 (1812), “Phiếm Ái xã” và “Phiếm Ái châu” là hai đơn vị hành chính cùng phủ Điện Bàn nhưng ở hai huyện khác nhau. “Phiếm Ái xã” tổng Đức Hòa Thượng, huyện Hòa Vang. Còn “Phiếm Ái châu” thuộc(*) Phú Châu, huyện Diên Khánh.

Cổng làng Mỹ Phiếm (xã Vu Gia). Ảnh: V.T
Phía đông giáp thôn Phúc An, châu Bàu Luân, xã Ái Mỹ; tây giáp xã Phiếm Ái, phường Đông Phúc, châu Bảo Sơn; nam giáp thôn Phúc An và sông; bắc giáp xã Phiếm Ái. Diện tích Phiếm Ái châu là 226 mẫu 5 sào 14 thước.
Phiếm Ái châu sau này được đổi tên thành Mỹ Phiếm, còn có tên gọi khác là Phường Chào. Đây cũng là tên của một vị nhân thần, từng được triều đình nhà Nguyễn phong tặng mỹ hiệu “Trang huy Dực bảo Trung hưng thượng đẳng thần”. Lễ hội Bà Phường Chào đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; dinh thờ và lăng mộ Bà Phường Chào được công nhận di tích cấp tỉnh.
“Phiếm Ái châu” ra đời gắn liền với lịch sử hình thành một vùng đất mới. Sách Công cuộc khai khẩn và phát triển làng xã ở Bắc Quảng Nam từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII của TS. Huỳnh Công Bá cho hay, từ giữa thế kỷ XIV, dưới thời Chúa Nguyễn, trên đồng bằng Ô Gia - Thu Bồn, ở một số làng cũ như Ái Nghĩa, Quảng Hóa, Phiếm Ái, có nhiều lưu dân Việt đến tiếp tục khai phá.
Đặc điểm đất đai ở các làng này là có nhiều sông nhánh đi qua và đang trong quá trình bị bồi lấp, tạo thành các bàu, hói. Cùng với quá trình này, lưu dân đã ra công khai phá, cải tạo vùng bãi tân bồi ven sông Thu Bồn và Ô Gia, hình thành hàng loạt làng mới mang từ tố “châu” (洲), có nghĩa là “bãi” hoặc “cồn”. Trong số này có "Phiếm Ái châu".
Ở đây đất thấp, phù sa mới bồi chưa có điểm tựa để ổn định, hằng năm lại bị nước lụt đi qua làm rửa trôi phù sa. Biện pháp chủ yếu được lưu dân áp dụng thành công đó là làm “cứng” dần đất đai thông qua việc “đẩy” dần lau, bói tiến ra mép sông và trồng dâu ở bên trong. Những bãi dâu xanh mượt ven sông không chỉ là nguồn thức ăn cho những nong tằm óng ả mà còn là những “trụ cột” giữ đất có hiệu quả, đồng thời thúc đẩy quá trình bồi tụ của phù sa trong mùa mưa lũ.
Cho đến triều Gia Long (đầu thế kỷ XIX), “Phiếm Ái xã” và “Phiếm Ái châu” vẫn liên cư liên địa, chỉ tách nhau ra do hiện tượng sông Vu Gia đổi dòng về hướng bắc. Điều này phù hợp với nhận định của TS Huỳnh Công Bá: "Hiện tượng đổi dòng thường trực của sông ngòi cũng là tác nhân phá vỡ tính liên hoàn về địa lý của làng xã, tạo nên những "xóm mới" tại các làng cũ, thậm chí còn dẫn đến sự chia tách lập thành những làng xã mới. Chẳng hạn sự chia tách ra Phiếm Ái châu và Phiếm Ái xã đã hình thành nên hai làng: Mỹ Phiếm và Phiếm Ái".
Làng Mỹ Phiếm nay thuộc thôn Khương Mỹ, xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng.
-------------------
(*) Thuộc là đơn vị hành chính đặc biệt trong hệ thống đơn vị hành chính các cấp ở Đàng Trong thời Chúa Nguyễn, tiếp tục tồn tại thời Tây Sơn cho đến đầu triều Nguyễn, quy tụ cư dân các xã, thôn, phường… chuyên về một hoạt động kinh tế chủ đạo hay cùng một nghề nghiệp, nằm rải rác ở miền núi, vùng ven sông biển mới được khai phá.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/van-phiem-ai-xa-va-phiem-ai-chau-o-xu-quang-xua-3347901.html











