Vật liệu xây dựng cần đáp ứng yêu cầu phát triển mới
Vật liệu xây dựng đang đứng trước yêu cầu ngày càng cao về công năng, hiệu quả và khả năng đáp ứng nhu cầu của các công trình. Cùng với việc cải tiến công nghệ, sản phẩm được chú trọng theo hướng phù hợp hơn với yêu cầu sử dụng và xu hướng phát triển của hoạt động xây dựng...

Ảnh minh họa: Thanh Xuân
Tại dự thảo Tờ trình về chính sách của Dự án Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng cho biết những năm gần đây, ngành vật liệu xây dựng Việt Nam đạt nhiều thành tựu quan trọng. Trong đó, sản lượng xi măng và gạch ốp lát của Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu thế giới, lần lượt đứng thứ 3 và thứ 5. Cùng với sự phát triển về quy mô sản xuất, công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng cũng có những thay đổi tích cực, tiệm cận với công nghệ của các nước tiên tiến trên thế giới.
BẤP CẬP TRONG THỰC TIỄN
Tuy nhiên, thực tiễn quản lý và phát triển vật liệu xây dựng chỉ ra vẫn còn một số hạn chế, bất cập cần được tháo gỡ. Những vấn đề này không chỉ liên quan đến công tác định hướng phát triển, đổi mới công nghệ, mà còn trải rộng sang quản lý nguồn nguyên liệu, sử dụng vật liệu trong công trình, tái chế chất thải và xây dựng cơ sở dữ liệu.
Bộ Xây dựng cho biết chiến lược phát triển vật liệu xây dựng, nội dung phát triển vật liệu xây dựng trong hệ thống quy hoạch và Kế hoạch phát triển vật liệu xây dựng của địa phương chưa được xác định đầy đủ về vị trí pháp lý, chức năng và mối quan hệ. Sau khi quy hoạch sản phẩm bị bãi bỏ, vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần có công cụ định hướng, theo dõi, đánh giá và dự báo phù hợp.
Cùng với đó, quá trình đổi mới công nghệ, tiết kiệm nguyên liệu - nhiên liệu - năng lượng và giảm phát thải diễn ra chưa đồng đều. Các cơ chế hỗ trợ nghiên cứu, phát triển, sản xuất thử, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa, chuyển giao và thương mại hóa đã được quy định tại pháp luật về khoa học, công nghệ, đầu tư, thuế, tín dụng, môi trường nhưng còn phân tán. Hơn nữa, hiện nay cũng chưa có tiêu chí chuyên ngành rõ để nhận diện nhóm vật liệu xây dựng mới, xanh, tái chế, tiết kiệm năng lượng, sử dụng nguyên liệu thứ cấp và phát thải thấp làm căn cứ kết nối chính sách.
Còn ở khâu nguyên liệu, thực tế, nguồn nguyên liệu hợp pháp phân bố không đồng đều; dữ liệu về quỹ mỏ, công suất khai thác, chất lượng, sản lượng, nhu cầu, giá và khả năng vận chuyển chưa được kết nối đầy đủ với nhu cầu vật liệu xây dựng. Việc sử dụng đúng cấp chất lượng, tận dụng khoáng sản đi kèm, đất đá thải mỏ, quặng đuôi và nguyên liệu thay thế vẫn hạn chế...
Đối với vật liệu sử dụng trong công trình, quy định về chất lượng, nguồn gốc, lựa chọn và sử dụng vật liệu được quy định tại nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành. Một số vấn đề đối với vật liệu mới, vật liệu tái chế, vật liệu tái sử dụng, vật liệu sản xuất từ chất thải và cấu kiện chế tạo sẵn chưa có cơ chế kỹ thuật đồng bộ để áp dụng rộng rãi.
Đáng chú ý, chất thải rắn xây dựng, tro, xỉ, thạch cao và phế thải công nghiệp có tiềm năng sử dụng lớn nhưng theo Bộ Xây dựng, việc phân loại, thu hồi, tái sử dụng, tái chế và tiêu thụ sản phẩm chưa được quan tâm đúng mức.
Nội dung quản lý vật liệu xây dựng đang phân tán ở nhiều hệ thống pháp luật; cơ chế phối hợp, phân cấp và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chưa đồng bộ. Dữ liệu về năng lực sản xuất, sản lượng, nguồn nguyên liệu, chất lượng, giá, cung - cầu, thị trường và vật liệu xây dựng mới - xanh - tái chế được thu thập từ nhiều nguồn, chưa thống nhất về nguồn dữ liệu gốc, mã định danh, kỳ cập nhật và chuẩn kết nối.
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Từ cơ sở nêu trên, Bộ Xây dựng đánh giá việc xây dựng Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng là cần thiết, để xác lập khung pháp lý ở cấp luật cho 6 nhóm vấn đề cốt lõi: Chiến lược - quy hoạch - kế hoạch; Phát triển vật liệu xây dựng; Nguyên liệu và bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng thông thường; Sử dụng vật liệu xây dựng trong công trình; Thu hồi, tái chế chất thải làm vật liệu xây dựng; phát triển kinh tế tuần hoàn; Quản lý nhà nước, chuyển đổi số và cơ sở dữ liệu.
Tuy nhiên, để hoàn thiện chính sách theo hướng hiệu quả rất cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế.
Trong đó, tại Liên minh châu Âu, quy định về sản phẩm xây dựng (EU) 2024/3110 thiết lập các quy tắc hài hòa đối với việc đưa sản phẩm xây dựng ra thị trường, đồng thời yêu cầu quan tâm đến các chỉ tiêu về an toàn, môi trường và đánh giá vòng đời; quy định cũng thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và minh bạch thông tin sản phẩm. Đáng chú ý, EU định hướng xây dựng hộ chiếu số cho sản phẩm xây dựng, qua đó tăng khả năng truy xuất, cung cấp thông tin cho người sử dụng và hỗ trợ lựa chọn các sản phẩm có hiệu quả môi trường cao hơn.
Tại Australia lại nổi bật với mô hình quản lý dựa trên hiệu năng thông qua Bộ luật Xây dựng quốc gia (NCC), trong đó không bắt buộc phải sử dụng một loại vật liệu hay sản phẩm cụ thể, mà tập trung yêu cầu vật liệu phải “phù hợp với mục đích sử dụng” và phải có bằng chứng chứng minh sự phù hợp. Cách tiếp cận này tạo dư địa cho đổi mới công nghệ, vật liệu mới nhưng vẫn bảo đảm an toàn và chất lượng công trình. Đồng thời, trách nhiệm bảo đảm sự phù hợp được phân bổ trong toàn bộ hệ thống pháp luật và chuỗi cung ứng, từ nhà sản xuất, nhà cung cấp đến chủ thể thiết kế và thi công.
Theo Bộ Xây dựng, từ kinh nghiệm quốc tế có thể rút ra một số nguyên tắc phù hợp để tham khảo, như: Tiếp cận quản lý vật liệu xây dựng theo chuỗi và vòng đời nhưng phân định rõ trách nhiệm ở từng khâu; Ưu tiên quản lý bằng yêu cầu tính năng, tiêu chuẩn, quy chuẩn và bằng chứng kỹ thuật; Công nhận, kế thừa kết quả đánh giá sự phù hợp và tăng truy xuất thông tin; số hóa dữ liệu sản phẩm...
Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/vat-lieu-xay-dung-can-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-moi.htm

