Về từ 'xui xúc' trong phương ngữ Thanh Hóa

Trong chuyên mục 'Cà kê chuyện chữ nghĩa' số trước (tháng 4/2026) chúng tôi đã phân tích nghĩa đẳng lập của từ 'xấu xí', một từ được Từ điển từ láy tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học - Hoàng Văn Hành chủ biên - Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2011) thu thập và giải nghĩa. Trong bài này chúng tôi sẽ phân tích nghĩa đẳng lập của từ 'xui xúc'.

“Xui xúc” là từ ghép đẳng lập gốc Hán. Không thấy cuốn từ điển nào chúng tôi có trong tay ghi nhận “xui xúc”. Tuy nhiên, người Thanh Hóa rất hay dùng, và từ này có nghĩa gần giống như “xúi giục”.

Xui /xúi, gốc Hán là chữ thôi 催, nghĩa là thôi thúc, thúc đẩy. Mối quan hệ ngữ âm TH X như thôn 村 xóm; thành 成 xong; thiên 偏 xiên (xiên xẹo,...). Chữ “xui” này chính là “xui” trong “xui bẩy”/ “xúi bẩy”, hay “xúi” trong “xúi giục” (xui/ xúi và kích động người khác làm bậy, với dụng ý xấu).

Xúc 促, có nghĩa là thúc hối, xô đẩy. Đây chính là “xúc” trong từ “xúc nộ”, “xúc ý” mà Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức giảng là: “xúc nộ: chọc giận”; “xúc ý • đt. Khiêu - khích, làm cho người tức - tối, chinh lòng” (“chinh lòng”, tức là “chênh lòng”, “chênh bụng” = tức tối, phiền lòng, không vừa ý - TG). Người Thanh Hóa dùng “xúc” với nghĩa là một từ độc lập trong hành chức. Ví dụ: Vì nó xúc cho nên mới đâm đầu vào, giờ ra nông nỗi này.

Chữ giục trong xúi giục, giục giã cũng chính là từ chữ xúc 促 này mà ra. Mối quan hệ ngữ âm X GI như xao 敲 gõ; giảo 狡 xỏ (xỏ lá),...

Từ “xui xúc” gốc Hán là “thôi thúc” 催促. Từ này (“thôi thúc” 催促) được Hán ngữ đại từ điển giảng là: “Xúc sử cản khoái hành động; thôi động tòng tốc khứ tố - 促使趕快行動; 推動從速去做” nghĩa là: Thúc giục, giục giã mau chóng hành động ; thúc đẩy làm cho nhanh (nghĩa tương tự “thôi thúc” trong tiếng Việt). Tuy nhiên, đó là nghĩa gốc của “thôi thúc”. Còn khi biến âm thành “xui xúc”, thì đây lại là một từ mới với nghĩa: xui và thúc đẩy người khác làm việc sai trái, với dụng ý xấu.

Như vậy, “xui xúc” trong phương ngữ Thanh Hóa thực chất là một dạng biến âm địa phương của từ Hán Việt “thôi thúc” 催促. Tuy nhiên, cũng như nhiều trường hợp tiếp nhận và sáng tạo khác, khi đi vào đời sống khẩu ngữ, “xui xúc” không chỉ thay đổi về ngữ âm mà còn chuyển dịch về sắc thái nghĩa. Nếu “thôi thúc” hay “thúc giục” chỉ hành động hối thúc, làm cho người khác mau chóng hành động nói chung, thì “xui xúc” lại thiên về nghĩa xúi bẩy, thúc đẩy người khác làm điều không phải , thường hàm ý ám chỉ ý đồ không tốt của người tác động.

Có thể nói, “xui xúc” là một trường hợp đáng chú ý của hiện tượng bảo lưu yếu tố Hán Việt cổ trong phương ngữ, đồng thời cũng cho thấy khả năng sáng tạo nghĩa của người Việt: từ một tổ hợp gốc Hán “thôi thúc” 催促, qua quá trình biến đổi ngữ âm (thôi xui; xúc giục), người Việt đã tạo nên một từ mới gần nghĩa với “xúi giục”, hiện còn bảo lưu trong phương ngữ Thanh Hóa. Vì vậy, xét về mặt từ nguyên, “xui xúc” không phải một dạng “nói trại” vô nghĩa, mà là một đơn vị từ vựng có cơ sở ngữ âm, ngữ nghĩa rõ ràng và mang sắc thái riêng (“xui xúc” mang tính chất ác ngầm hơn so với “xúi giục”) rất đáng được các công trình từ điển và nghiên cứu phương ngữ thu thập, ghi nhận.

Hoàng Trinh Sơn (CTV)

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/ve-tu-xui-xuc-nbsp-trong-phuong-ngu-thanh-hoa-288863.htm