Venezuela - Mảnh đất giàu 'vàng đen'

Với trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới, Venezuela được cho là còn nhiều tiềm năng để biến 'vàng đen' thành nguồn ngoại tệ cho đất nước.

Venezuela đã trở thành điểm nóng thu hút sự chú ý trong những ngày đầu năm 2026, khi Mỹ không kích nhiều mục tiêu trên khắp nước này và bắt giữ vợ chồng Tổng thống Nicolas Maduro.

Theo tuyên bố của Tổng thống Donald Trump, Mỹ sẽ cho phép các tập đoàn dầu khí hàng đầu thế giới đầu tư hàng tỷ USD để vận hành các cơ sở dầu mỏ tại Venezuela. Các doanh nghiệp này sẽ chi trả chi phí tái thiết hệ thống hạ tầng khai thác dầu đã xuống cấp, qua đó tạo nguồn thu cho quốc gia Nam Mỹ.

Hãng tin Reuters ngày 4/1 đưa tin,Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ và đồng minh (OPEC+), nơi Venezuela là thành viên sáng lập, đã phản ứng bằng quyết định giữ nguyên sản lượng dầu trong cuộc họp cùng ngày. Động thái này đã được dự báo từ trước, trong bối cảnh nhu cầu yếu và sản xuất toàn cầu tăng lên. Từ tháng 4/2025, nhóm này đã tăng sản xuất thêm 2,9 triệu thùng/ngày, tương đương 2,7% nguồn cung toàn cầu.

Tuy nhiên, tốc độ tăng sản xuất đã chậm lại từ tháng 10/2025, do các dự báo về khả năng dư cung. Giới phân tích đánh giá động thái của OPEC+ nhằm bảo vệ giá dầu, duy trì sự đoàn kết nội bộ và có thêm thời gian đánh giá bất ổn địa chính trị tại các nước thành viên.

Trữ lượng lớn nhưng sản lượng giảm

Theo số liệu của OPEC, tính đến năm 2024, Venezuela sở hữu khoảng 303 tỷ thùng dầu, chiếm khoảng 17% tổng trữ lượng toàn cầu. Con số này vượt qua Saudi Arabia, quốc gia đóng vai trò dẫn dắt trong OPEC với 267 tỷ thùng.

Phần lớn trữ lượng dầu tại Venezuela là dầu thô nặng và siêu nặng, tập trung tại vành đai Orinoco ở miền Trung của Venezuela. Với những đặc tính lý hóa đặc biệt, loại dầu thô này khác hẳn với dầu nhẹ ở Trung Đông hay Mỹ. Cụ thể, dầu của Venezuela có chỉ số API dưới 10. Chỉ số trên thường được dùng để thể hiện mức độ đậm đặc của dầu thô, nếu càng thấp thì dầu càng đặc. Trong khi đó, các loại dầu nhẹ có chỉ số này thường trên 30.

Bên cạnh đó, dầu thô Venezuela còn có độ nhớt cao, đặc quánh như nhựa đường, chứa nhiều tạp chất và không thể tự chảy qua đường ống nếu không được xử lý bằng cách pha loãng với dầu nhẹ hơn hay dung môi, hoặc được sơ chế thành dầu tổng hợp trước khi vận chuyển từ giếng khai thác đến cảng biển hoặc nhà máy lọc dầu.

Những đặc điểm nổi trội này đã khiến cho quá trình khai thác, vận chuyển, xử lý và tinh chế dầu Venezuela đòi hỏi công nghệ phức tạp và chi phí khai thác cao hơn đáng kể so với dầu nhẹ thông thường. Việc khai thác luôn đòi hỏi thiết bị chuyên dụng và trình độ kỹ thuật chuyên môn cao. Tuy nhiên, các tập đoàn dầu khí quốc tế có đủ năng lực lại bị hạn chế hoạt động tại quốc gia này.

Về tính ứng dụng, với hàm lượng lưu huỳnh cao, dầu Venezuela phù hợp để sản xuất dầu diesel, nhựa đường và nhiên liệu cho nhà máy, thiết bị hạng nặng, trở thành mặt hàng mang tính chiến lược trong ngành lọc dầu toàn cầu.

Về sản lượng, mặc dù có trữ lượng lớn nhất thế giới, song sản lượng khai thác dầu của Venezuela đã giảm mạnh từ mức 3,5 triệu thùng/ngày vào những năm 1970, vốn chiếm hơn 7% sản lượng dầu toàn cầu thời điểm đó. Ở thời điểm 15 năm trước, quốc gia hơn 28 triệu dân từng là nước sản xuất dầu mỏ lớn nhất châu Mỹ Latinh và từng cạnh tranh với Mỹ về tầm ảnh hưởng trong khu vực. Đáng chú ý, dầu mỏ cũng được cho là từng định hình văn hóa của nước này, tạo ra nguồn tiền lớn để tài trợ cho các công trình công cộng và giúp Caracas đưa ra các chương trình học bổng.

Tuy nhiên, giai đoạn 2010-2020, sản lượng dầu của Venezuela giảm xuống dưới 2 triệu thùng/ngày. Còn trong năm 2025, con số này thậm chí chỉ đạt khoảng 1,1 triệu thùng/ngày, tương đương 1% sản lượng thế giới và chỉ ngang mức sản xuất của bang North Dakota của Mỹ.

Theo số liệu của Viện Năng lượng có trụ sở tại London, bên cạnh Venezuela, các quốc gia có trữ lượng dầu mỏ hàng đầu thế giới hiện đều thuộc khối OPEC, chẳng hạn như Iran, Iraq, Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), Kuwait với trữ lượng từ khoảng 145-209 tỷ thùng.

Trong khi đó, trữ lượng của Mỹ chỉ vào khoảng 45 tỷ thùng, còn của Nga là 80 tỷ thùng.

Xuất khẩu làm trọng tâm

Số liệu từ Đài quan sát phức hợp kinh tế (OEC) cho thấy, vào thập niên năm 2010, Venezuela từng thu về 90 tỷ USD/năm từ xuất khẩu dầu mỏ.

Theo Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ (EIA), Mỹ từng là khách hàng nhập khẩu nhiều dầu mỏ nhất của Venezuela, đạt đỉnh 1,4 triệu thùng/năm 1997, tương đương 44% sản lượng của Caracas thời đó. Tuy nhiên, đến năm 2018, con số này chỉ còn 506.000 thùng, do nguồn cung dầu nặng từ Mỹ, Mexico và Canada tăng mạnh.

Đáng chú ý, xuất khẩu dầu của Venezuela sang Mỹ gần như về 0 trong giai đoạn năm 2020-2022, khi Tổng thống Trump áp lệnh trừng phạt lên Tập đoàn Dầu khí quốc gia PDVSA của Venezuela.

Sau đó, vào năm 2025, hoạt động nhập khẩu dầu của Mỹ đã phục hồi lên 227.000 thùng/ngày, trong đó tính bình quân 10 tháng đầu năm 2025 đạt 140.000 thùng. Nguyên nhân chủ yếu do Washington cho phép Tập đoàn năng lượng đa quốc gia Chevron của Mỹ tiếp tục vận hành các liên doanh ở Venezuela.

Từ khi Mỹ áp lệnh trừng phạt quốc gia Nam Mỹ, Trung Quốc đã dần trở thành khách mua chính của loại dầu này. Số liệu của hãng dữ liệu Kpler cho thấy, trong năm 2025, Bắc Kinh đã mua khoảng 1/2 lượng dầu xuất khẩu của Venezuela, tương đương gần 400.000 thùng/ngày.

Còn theo ước tính của Trung tâm Chính sách năng lượng toàn cầu (CGEP), hai phần ba số dầu nhập khẩu từ Venezuela được đưa vào các nhà máy lọc dầu tư nhân ở Trung Quốc.

Thách thức lớn

Hãng Reuters phân tích, hoạt động sản xuất và xuất khẩu dầu tại Venezuela chưa chắc tăng mạnh những năm tới, kể cả khi được các doanh nghiệp lớn của Mỹ đầu tư hàng tỷ USD như lời ông Trump. Bởi vì bất kỳ doanh nghiệp nào muốn quay lại Venezuela để thực hiện hoạt động khai thác dầu cũng phải đối mặt với loạt thách thức.

Trước hết, ngành dầu mỏ Venezuela từng bị quốc hữu hóa vào thập niên 1970 và sau đó chính phủ quy định công ty dầu khí nhà nước PDVSA phải nắm cổ phần chi phối trong các dự án. Tuy nhiên, chính sách này đã khiến cho ngành dầu khí Venezuela phát triển chậm lại vì một số lý do như hạn chế trong quản lý, làm suy yếu năng lực hoạt động và tài chính của công ty.

Thứ hai, các lệnh trừng phạt quốc tế của các nước, trong đó có Mỹ, đã làm giảm đáng kể khả năng tiếp cận thị trường quốc tế, thu hút đầu tư, nhập khẩu thiết bị và công nghệ cần thiết cho các hoạt động khai thác và tinh chế dầu của Venezuela.

Thứ ba, bất ổn kinh tế vĩ mô, siêu lạm phát, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao và tình hình chính trị là những rào cản chủ yếu đối với quá trình phục hồi và phát triển ngành dầu mỏ Venezuela.

Cuối cùng, sau nhiều năm thiếu chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng, bảo trì và nâng cấp công nghệ, các giếng dầu và nhà máy lọc dầu tại đây xuống cấp, dẫn đến giảm năng lực sản xuất, hiện chỉ vận hành ở mức dưới 20-30% công suất tổng hợp và gia tăng chi phí hoạt động.

Trong đó, các cơ sở lọc dầu chính bị xuống cấp bao gồm: Tổ hợp lọc dầu Paraguana, nhà máy lọc dầu El Palito, nhà máy lọc dầu Puerto La Cruz hay nhà máy Bajo Grande và San Roque. Nguyên nhân chủ yếu do hỏng hóc thiết bị, cắt điện, thiếu nguyên liệu đầu vào, đường ống dẫn dầu đã cũ kỹ, trong đó nhiều đường ống đã hơn 50 năm tuổi và tình trạng cơ sở hạ tầng lưu trữ, vận chuyển xuống cấp.

Các chuyên gia OPEC cho rằng, triển vọng ngành dầu mỏ Venezuela trong những năm tới vẫn còn nhiều ẩn số. Tuy nhiên, nếu Caracas chủ động tháo gỡ các "nút thắt" về đầu tư, hạ tầng và quản trị, lĩnh vực dầu mỏ hoàn toàn có thể phục hồi trong tương lai gần, qua đó tạo nguồn thu ngoại tệ ổn định cho nền kinh tế.

Hải An

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/venezuela-manh-dat-giau-vang-den-347997.html