Vì sao châu Á là khu vực chịu ảnh hưởng kinh tế nặng nề nhất từ chiến sự ở Trung Đông?

Cuộc chiến tại Trung Đông đang không chỉ dừng lại ở phạm vi địa chính trị, mà dần lan rộng thành một cú sốc kinh tế đối với châu Á.

Hình ảnh từ vệ tinh Terra của NASA về eo biển Hormuz (trái). Ảnh tư liệu: The Gulf News/TTXVN

Hình ảnh từ vệ tinh Terra của NASA về eo biển Hormuz (trái). Ảnh tư liệu: The Gulf News/TTXVN

Theo hãng tin CNA, việc Eo biển Hormuz - một trong những “yết hầu” năng lượng quan trọng nhất thế giới - bị phong tỏa trên thực tế đã làm gián đoạn dòng chảy nhiên liệu, đồng thời đẩy giá năng lượng leo thang trên diện rộng.

Năm 2025, khoảng 20 triệu thùng dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ mỗi ngày, tương đương gần 1/5 lượng dầu vận chuyển bằng đường biển toàn cầu, đi qua tuyến hàng hải này. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), khoảng 80% trong số đó hướng tới các thị trường châu Á. Điều này khiến mọi biến động tại Eo biển Hormuz nhanh chóng “dội sóng” tới các nền kinh tế nhập khẩu năng lượng, dù cách xa tâm điểm xung đột hàng nghìn km.

Trong cuộc phỏng vấn với hãng tin Reuters (Anh), Ngoại trưởng Singapore Vivian Balakrishnan gọi đây là một “cuộc khủng hoảng của châu Á”.

“Khủng hoảng châu Á” - Vì sao?

Câu trả lời nằm ở hướng đi của dòng năng lượng toàn cầu. Eo biển Hormuz là tuyến hàng hải hẹp, ngăn cách Bán đảo Arab với Iran, nối Vịnh Ba Tư với Vịnh Oman và Biển Arab.

Đây là tuyến xuất khẩu chủ lực của dầu khí từ các quốc gia Vùng Vịnh như Saudi Arabia, UAE, Kuwait, Qatar, Iraq, Bahrain và Iran. Trong bối cảnh các tuyến thay thế còn hạn chế, bất kỳ gián đoạn nào tại đây đều có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn đối với thị trường năng lượng toàn cầu.

Tuy nhiên, tác động không diễn ra đồng đều. Châu Á là điểm đến chính của nguồn cung này, với Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản nằm trong nhóm nhập khẩu lớn nhất. Điều đó tạo ra một nghịch lý: xung đột diễn ra ở Trung Đông, nhưng “cú đánh” kinh tế lại giáng mạnh nhất vào châu Á.

Ông Balakrishnan mô tả đây là “sự bất đối xứng giữa khía cạnh quân sự và khía cạnh kinh tế”.

Quang cảnh cảng hàng hóa tại Singapore. Ảnh: THX/TTXVN

Quang cảnh cảng hàng hóa tại Singapore. Ảnh: THX/TTXVN

Không chỉ dầu mỏ, gần 90% khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đi qua Eo biển Hormuz cũng được vận sang châu Á, chiếm khoảng 27% tổng lượng LNG nhập khẩu của khu vực này. Riêng Bangladesh, Ấn Độ và Pakistan phụ thuộc tới gần hai phần ba nguồn LNG nhập khẩu qua tuyến đường này trong năm 2025.

Theo ông Lawrence Anderson, chuyên gia cao cấp tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (RSIS), phần lớn các quốc gia châu Á, đặc biệt là Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước Đông Nam Á, đều phụ thuộc lớn vào dầu khí nhập khẩu từ Trung Đông.

Lý do châu Á chịu tác động nặng hơn Mỹ

Người dân mua sắm tại siêu thị ở Seoul, Hàn Quốc. Ảnh: Yonhap/TTXVN

Người dân mua sắm tại siêu thị ở Seoul, Hàn Quốc. Ảnh: Yonhap/TTXVN

Sự khác biệt trong mức độ tổn thương giữa châu Á và Mỹ bắt nguồn từ vị thế của mỗi bên trong hệ thống năng lượng toàn cầu.

Trong khi châu Á vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu, Mỹ đã trải qua một bước ngoặt chiến lược trong hơn một thập kỷ qua. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), từ năm 2019, Mỹ đã trở thành nước xuất khẩu năng lượng ròng.

Ông Balakrishnan nhấn mạnh rằng Mỹ đã vượt Saudi Arabia để trở thành nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới từ năm 2016, đồng thời dẫn đầu về sản xuất khí đốt từ năm 2017 - một sự thay đổi căn bản so với cách đây nửa thế kỷ.

Ngược lại, mức độ phụ thuộc của các nền kinh tế châu Á vẫn ở mức cao. Ấn Độ nhập hơn một nửa lượng dầu và khoảng hai phần ba LNG từ Trung Đông, Trung Quốc phụ thuộc khoảng một nửa dầu và 1/3 LNG, Nhật Bản nhập tới 95% dầu và 11% LNG, còn Hàn Quốc phụ thuộc khoảng 70% dầu và 20% LNG từ khu vực này.

Thời điểm bất lợi: áp lực kép đối với châu Á

Ngoài việc phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng, thời điểm xảy ra gián đoạn cũng khiến châu Á gặp khó khăn hơn.

“Điều này xảy ra đúng lúc châu Á kỳ vọng đạt được sự ổn định hơn và thúc đẩy tăng trưởng, đồng thời phân bổ thành quả phát triển rộng rãi hơn trong xã hội”, ông Balakrishnan nhận định. “Đây không phải thời điểm thuận lợi, và chính điều đó làm gia tăng cả lo ngại kinh tế lẫn chính trị”.

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), châu Á hiện đóng góp tới 2/3 tăng trưởng GDP toàn cầu và chiếm khoảng 40% thương mại thế giới.

Ông Anderson cảnh báo dầu khí là nền tảng cho các nền kinh tế tiêu thụ năng lượng lớn và hoạt động sản xuất tại châu Á, khiến khu vực này đặc biệt dễ tổn thương trước gián đoạn nguồn cung từ Iran và các nước vùng Vịnh.

Một rủi ro đáng chú ý khác là nguy cơ Iran cắt đứt các tuyến cáp năng lượng và cáp quang dưới biển tại Vịnh Ba Tư. Nếu xảy ra, điều này có thể gây gián đoạn nghiêm trọng đối với kết nối internet quốc tế và dòng chảy dữ liệu toàn cầu, đặc biệt là các hoạt động tài chính giữa châu Âu và châu Á.

Từ năng lượng đến lạm phát: cú sốc lan rộng

Một trạm xăng ở Seoul, Hàn Quốc. Ảnh: THX/TTXVN

Một trạm xăng ở Seoul, Hàn Quốc. Ảnh: THX/TTXVN

Tác động từ sự tắc nghẽn của Eo biển Hormuz không chỉ dừng lại ở việc giá dầu và khí đốt tăng mạnh, mà nhanh chóng lan sang lạm phát và chi phí sinh hoạt.

Theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), khoảng 1/3 lượng phân bón vận chuyển bằng đường biển toàn cầu đi qua Eo biển Hormuz trong năm 2024. Giá khí đốt tăng kéo theo giá phân bón, trong khi giá dầu tăng thường dẫn tới giá lương thực leo thang.

Nhiều quốc gia đang phát triển vốn đã chịu áp lực nợ cao, dư địa tài khóa hạn chế và khó tiếp cận nguồn vốn sẽ càng gặp khó khăn.

Ông Anderson cảnh báo doanh nghiệp và người dân sẽ phải đối mặt với giá cả leo thang và biến động tỷ giá, ảnh hưởng đến chi phí sinh hoạt, vận tải, du lịch cũng như các hoạt động kinh tế khác.

Thị trường tài chính châu Á, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu và dòng vốn đầu tư, cũng có thể chịu tác động mạnh nếu khủng hoảng kéo dài.

Tại Philippines, giá nhiên liệu tăng đã dẫn tới các cuộc biểu tình của giới tài xế. Nước này nhập tới 98% dầu thô từ Trung Đông. Trong khi đó, một phần nguồn cung xăng dầu thành phẩm lại đến từ Trung Quốc - nơi gần đây hạn chế xuất khẩu, khiến áp lực nguồn cung càng gia tăng.

Giống như phần lớn châu Á, Singapore phụ thuộc lớn vào năng lượng nhập khẩu. Theo Cơ quan Thị trường Năng lượng (EMA), khoảng 95% điện năng của nước này được sản xuất từ khí tự nhiên nhập khẩu.

Ông Balakrishnan cho biết dù Singapore có các đối tác tin cậy tại Vùng Vịnh, việc vận chuyển năng lượng vẫn bị ảnh hưởng bởi tình hình hiện tại. Tuy nhiên, nhờ có các cảng LNG và tiềm lực tài chính, nước này vẫn có thể nhập khẩu từ thị trường toàn cầu, dù phải chấp nhận mức giá quốc tế. Dẫu vậy, các biện pháp này không thể giúp Singapore tránh khỏi áp lực lạm phát do giá năng lượng tăng cao.

Là một trung tâm hàng hải lớn và có ngành công nghiệp năng lượng - hóa chất đứng thứ hai trong lĩnh vực sản xuất, Singapore đặc biệt nhạy cảm với biến động bên ngoài.

“Singapore không sản xuất năng lượng và rất dễ tổn thương trước gián đoạn thương mại. Chúng tôi có thể phải đối mặt với chi phí năng lượng tăng, đứt gãy chuỗi cung ứng, tác động tới doanh nghiệp, tiêu dùng và lạm phát”, ông Anderson nhận định.

Theo ông Anderson, triển vọng phụ thuộc lớn vào việc Eo biển Hormuz sớm được nối lại lưu thông an toàn và xung đột kết thúc.

Ngoài các nền kinh tế lớn, nhiều quốc gia nhập khẩu năng lượng tại Nam Á và Đông Nam Á như Thái Lan, Lào hay Sri Lanka cũng chịu tác động đáng kể khi chi phí nhiên liệu tăng kéo theo áp lực lạm phát và thâm hụt thương mại.

Các nền kinh tế phụ thuộc vào du lịch như Maldives hoặc Indonesia cũng có thể bị ảnh hưởng gián tiếp do chi phí vận tải leo thang làm giảm nhu cầu đi lại.

Ở chiều ngược lại, một số nước xuất khẩu năng lượng ngoài Trung Đông có thể hưởng lợi trong ngắn hạn từ giá dầu tăng, nhưng biến động kéo dài vẫn tiềm ẩn rủi ro đối với ổn định kinh tế toàn cầu.

Hải Vân/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/the-gioi/vi-sao-chau-a-la-khu-vuc-chiu-anh-huong-kinh-te-nang-ne-nhat-tu-chien-su-o-trung-dong-20260330165613750.htm