Vì sao người Việt có chỉ số BMI không cao vẫn mắc đái tháo đường?

Tại Châu Âu, đái tháo đường thường đi kèm với thừa cân, béo phì.

NGND.GS.TS.BS Trần Hữu Dàng - Chủ tịch Hội nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Lê Minh

NGND.GS.TS.BS Trần Hữu Dàng - Chủ tịch Hội nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Lê Minh

NGND.GS.TS.BS Trần Hữu Dàng - Chủ tịch Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam cho rằng đối với bệnh đái tháo đường, cần tiến hành các nghiên cứu nhằm xác định chính xác, chuẩn hóa tỷ lệ mắc bệnh và tiền đái tháo đường trong cộng đồng.

Làm rõ đặc điểm khác biệt của người bệnh tại Việt Nam

Theo GS Trần Hữu Dàng cần làm rõ những đặc điểm khác biệt của người bệnh tại Việt Nam. Nếu tại châu Âu, đái tháo đường thường đi kèm tình trạng thừa cân, béo phì, thì tại Việt Nam, không ít người mắc bệnh dù chỉ số BMI không cao. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu để hiểu rõ hơn các yếu tố nguy cơ và đặc điểm bệnh học của người Việt Nam.

Những thông tin trên đã được GS Trần Hữu Dàng thông tin tại Hội nghị khoa học về bệnh nội tiết, đái tháo đường và rối loạn chuyển hóa Việt Nam lần thứ 13 và Hội nghị khoa học thường niên hội Đái tháo đường - Nội tiết TPHCM năm 2026, được tổ chức tại TPHCM từ ngày 21 đến 23/8.

Theo GS Trần Hữu Dàng, thực trạng bệnh nội tiết, đái tháo đường và rối loạn chuyển hóa tại Việt Nam đang gia tăng, trong khi bệnh thường được phát hiện muộn. Việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ chưa đồng đều và khả năng tiếp cận chuyên khoa, công nghệ mới còn khác biệt giữa các vùng miền.

Hiện nay, nhiều quyết định chuyên môn và chính sách vẫn dựa trên những nguồn dữ liệu phân tán, quy mô nhỏ hoặc chưa đại diện đầy đủ. Và nếu không có dữ liệu chất lượng, ngành y tế sẽ khó xác định đúng ưu tiên, phân bổ nguồn lực và đánh giá tác động của các can thiệp.

Bên cạnh đó, GS Dàng cũng cho rằng cần đánh giá toàn diện tình trạng kiểm soát glucose máu, huyết áp và lipid; tỷ lệ và mức độ các biến chứng; mức độ tuân thủ điều trị; gánh nặng và chi phí do bệnh tật gây ra; đồng thời đánh giá hiệu quả thực tế của các loại thuốc và thiết bị y tế mới trong điều trị.

Chiến lược nghiên cứu cũng cần được xây dựng theo hướng bao quát toàn bộ lĩnh vực nội tiết và chuyển hóa, từ đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid máu đến các bệnh lý nội tiết khác. Điều này vừa phù hợp với tên gọi, vừa đáp ứng đầy đủ sứ mệnh và định hướng phát triển của Hội nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam.

Bệnh tuyến giáp được nhận định là phổ biến nhưng dữ liệu ở quy mô quốc gia cũng vẫn còn hạn chế. GS Trần Hữu Dàng cho rằng cần xác định tỷ lệ bướu giáp, nhân giáp, rối loạn chức năng tuyến giáp, bệnh tự miễn và ung thư tuyến giáp theo vùng miền, giới tính và độ tuổi.

Bên cạnh đó, cần đánh giá việc xét nghiệm, chuẩn hóa siêu âm, chọc hút tế bào và phân tầng nguy cơ… nhằm xác định đúng người cần điều trị, hạn chế bỏ sót bệnh nhưng đồng thời tránh chẩn đoán và can thiệp quá mức.

Đối với các bệnh lý tuyến yên và các rối loạn nội tiết hiếm cũng cần được quan tâm. U tuyến yên, to đầu chi, bệnh Cushing, tăng prolactin máu và suy tuyến yên thường âm thầm nên dễ bị chẩn đoán muộn.

Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam cần định hướng xây dựng đăng ký bệnh, chuẩn hóa chẩn đoán và theo dõi, phát triển các nhóm đa chuyên khoa và tăng khả năng tiếp cận kỹ thuật, thuốc đặc hiệu. Mạng lưới quốc gia vừa tạo dữ liệu nghiên cứu, vừa giúp người bệnh tiếp cận đúng chuyên gia.

Thừa cân, béo phì và các rối loạn chuyển hóa cũng được xác định là thách thức lớn.

"Béo phì cần được nhìn nhận là một bệnh mạn tính, chịu tác động đồng thời của yếu tố sinh học, môi trường, xã hội và hành vi, thay vì chỉ được xem là vấn đề liên quan đến ý chí của người bệnh", GS Dàng nhấn mạnh.

Việc nghiên cứu cần tập trung vào đặc điểm tích tụ mỡ và nguy cơ chuyển hóa ở người châu Á, mối liên quan với đái tháo đường, tim mạch, gan nhiễm mỡ, rối loạn sinh sản và ngưng thở khi ngủ. Điều trị cần toàn diện, lâu dài, hướng đến mục tiêu cải thiện sức khỏe chứ không chỉ giảm cân.

Xây dựng mạng lưới nghiên cứu nội tiết trên toàn quốc

GS Trần Hữu Dàng cho rằng ngành nội tiết cần xây dựng mạng lưới nghiên cứu quốc gia với sự tham gia của các trung tâm nội tiết, bệnh viện, trường đại học và hội chuyên ngành địa phương.

Mạng lưới này cần thống nhất phương thức quản trị dữ liệu, đạo đức nghiên cứu, tăng cường đào tạo nghiên cứu, phát triển năng lực thống kê, nghiên cứu triển khai và kinh tế y tế. Đồng thời, tạo điều kiện để các bác sĩ, nhà khoa học trẻ tham gia các dự án nghiên cứu chung và từng bước phát triển năng lực chuyên môn.

Song song đó, việc xây dựng bản đồ nhân lực nội tiết toàn quốc cũng được đặt ra, nhằm đánh giá số lượng, phân bố nhân lực, năng lực chuyên sâu và dịch vụ tại từng địa phương. Đây sẽ là cơ sở để xác định nơi thiếu chuyên gia, định hướng đào tạo, hỗ trợ từ xa, chuyển tuyến hợp lý và phát triển các trung tâm tham chiếu.

GS Trần Hữu Dàng nhấn mạnh giá trị của một hội nghị khoa học không chỉ được đo bằng số lượng báo cáo hay đại biểu tham dự mà quan trọng hơn là những thay đổi trong thực hành sau hội nghị.

Đó có thể là một hướng dẫn được áp dụng chính xác hơn, một người bệnh được phát hiện sớm hơn, một biến chứng được phòng ngừa, một nhóm nghiên cứu mới được hình thành hoặc một bộ dữ liệu về người Việt Nam được xây dựng và công bố. Mỗi đại biểu tham dự vừa là người tiếp nhận tri thức, vừa là một mắt xích của mạng lưới đổi mới thực hành trên cả nước.

Với tinh thần khoa học, hợp tác, đổi mới và trách nhiệm đối với người bệnh, hội nghị được kỳ vọng mở ra thêm nhiều chương trình hợp tác nghiên cứu, góp phần đưa thực hành nội tiết, đái tháo đường và chuyển hóa tại Việt Nam từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

AI được kỳ vọng thay đổi thực hành nội tiết học và chuyển hóa

Theo GS Trần Hữu Dàng, trí tuệ nhân tạo đang từng bước được ứng dụng trong nghiên cứu, đào tạo, sàng lọc, chẩn đoán, lựa chọn điều trị và quản lý người bệnh.

Tuy nhiên, AI chỉ thực sự có giá trị khi giúp bác sĩ đưa ra quyết định tốt hơn, người bệnh tiếp cận dịch vụ y tế công bằng hơn và hệ thống y tế vận hành an toàn, nhân văn hơn.

Thùy Dương

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/vi-sao-nguoi-viet-co-chi-so-bmi-khong-cao-van-mac-dai-thao-duong-169260822201702503.htm