Vì sao tiền gửi dân cư lập kỷ lục nhưng ngân hàng không dư dả vốn?
Theo chuyên gia, tiền gửi tăng không đồng nghĩa nguồn vốn của hệ thống ngân hàng dư dả. Đánh giá sức khỏe nguồn vốn cần nhìn đồng thời các yếu tố: quy mô vốn, vốn đến từ đâu, kỳ hạn thế nào và đang được sử dụng để tài trợ cho những tài sản nào.

Lãi suất hấp dẫn khiến tiền gửi vào ngân hàng tăng cao kỷ lục. Ảnh: Hải Thu
Vì sao tiền gửi dân cư tăng mạnh?
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 6/2026, số dư tiền gửi dân cư đạt 11,069 triệu tỷ đồng, cao hơn 734 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2025, là mức cao nhất từ trước đến nay.
Đà tăng của tiền gửi dân cư diễn ra trong bối cảnh lãi suất huy động tăng nhanh trong cùng giai đoạn khiến lãi suất trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy người dân gửi tiền.
"Trước đây, có sóng bất động sản, sóng vàng, nên người dân rót tiền vào các kênh đầu tư này, thậm chí còn sử dụng thêm đòn bẩy tài chính. Nhưng trong 6 tháng đầu năm, hầu hết kênh đầu tư đều gặp khó, chỉ có lãi suất tiền gửi tăng lên. Do đó, sự gia tăng của quy mô tiền gửi dân cư là sự phản ánh chính xác hành vi tài chính của người dân và nhà đầu tư", ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Ngân hàng Đầu tư - Chứng khoán An Bình, trao đổi với VietTimes.
Nhìn sâu hơn, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, cho rằng lãi suất là một động lực quan trọng nhưng chưa phải là toàn bộ câu chuyện.
"Tiền gửi tăng còn đến từ nhu cầu tích lũy và dự phòng của người dân, xu hướng ưu tiên tài sản có tính an toàn và thanh khoản, sự thay đổi tương quan lợi suất - rủi ro giữa các kênh đầu tư, cùng sự thuận tiện ngày càng cao của ngân hàng số. Vì vậy, mức tăng tiền gửi nên được nhìn trong tổng thể hành vi phân bổ tài sản của khu vực dân cư, thay vì quy hoàn toàn về biến động lãi suất", ông Huy nhấn mạnh.

Nguồn: SBV
Tiền gửi tăng không có nghĩa vốn dồi dào
Theo ông Nguyễn Quang Huy, số dư tiền gửi là con số tích lũy, trong đó có tiền gửi mới, tiền tái tục và phần lãi được nhập gốc. Nói cách khác, số tiền gửi tăng thêm trong 6 tháng đầu năm 2026 không đồng nghĩa với việc người dân mang thêm 734 nghìn tỷ gửi vào hệ thống ngân hàng. Đây là một trong những lý do giải thích cho việc tiền gửi tăng nhưng bài toán cân đối nguồn vốn của hệ thống vẫn chịu áp lực.
"Quy mô tiền gửi và trạng thái thanh khoản là hai khái niệm có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Điều quan trọng là tương quan giữa tốc độ tăng huy động và tín dụng, kỳ hạn của nguồn vốn so với kỳ hạn tài sản, cũng như sự phân bổ thanh khoản giữa các ngân hàng.
Chẳng hạn, nguồn tiền gửi có thể tăng nhưng chủ yếu ở kỳ hạn ngắn, trong khi nhu cầu tín dụng trung – dài hạn lớn; hoặc thanh khoản tập trung ở một nhóm ngân hàng trong khi nhu cầu vốn cao hơn tại nhóm khác", ông Huy cho hay.
Phân tích của ông Huy cho thấy sự gia tăng của tiền gửi không đồng nghĩa với việc nguồn vốn của hệ thống ngân hàng trở nên dồi dào. Lấy tương quan tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động để xét, có thể thấy mức chênh lệch là khá lớn. Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho biết trong giai đoạn 2021-2025, bình quân tốc độ tăng trưởng tín dụng luôn cao hơn 3,8%/năm so với tốc độ tăng trưởng huy động vốn, khiến chênh lệch giữa tín dụng và huy động vốn đến nay lên tới 2 triệu tỷ đồng. Điều này khiến bài toán cân đối nguồn vốn của hệ thống trở nên căng thẳng.
Để bảo đảm thanh khoản hệ thống, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã liên tục đưa tiền qua kênh nghiệp vụ thị trường mở, chủ động tăng lượng chào mua và kéo dài kỳ hạn chào mua giấy tờ có giá lên tới 91 ngày để đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng.
Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước mở nhiều phiên trong ngày để việc đấu thầu nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện thông suốt, bảo đảm cung ứng và hỗ trợ kịp thời thanh khoản cho hệ thống.
Trong những thời điểm nhu cầu thanh khoản tăng cao, Ngân hàng Nhà nước còn bổ sung thanh khoản VND qua nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ - VND để các tổ chức tín dụng có thêm biện pháp tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với số dư cao nhất là 143,1 nghìn tỷ đồng, tương đương 6 tỷ USD (vào tháng 2/2026).
Ngoài ra, báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy một thực tế là nguồn vốn trung - dài hạn của hệ thống rất thấp, chỉ 16% tổng nguồn vốn. Trong khi đó, tín dụng trung - dài hạn lại chiếm tới 48,5% tổng dư nợ cho vay. Sự chênh lệch kỳ hạn này hàm ý lượng tiền gửi dân cư lớn tự thân không bảo đảm cho việc ngân hàng có nguồn vốn dài hạn tương ứng để tài trợ cho các khoản cho vay trung và dài hạn. Đó là chưa kể đến việc lượng tiền gửi dân cư tăng không có nghĩa là vốn đã rẻ hơn.
Ông Nguyễn Thế Minh lưu ý thêm rằng, điều quan trọng hơn cả số dư tiền gửi tăng bao nhiêu là lượng tiền gửi đó có đáp ứng đủ nhu cầu của nền kinh tế không.
"Tiền gửi dân cao kỷ lục, nhưng nhu cầu vốn cũng cao kỷ lục. Mặt khác, nếu nhìn vào tỷ lệ tiền gửi/GDP danh nghĩa, chúng ta thấy trong nhiều năm qua tỷ lệ này luôn dao động quanh mức 80%. Điều này cho thấy mức tăng của tiền gửi dân cư chưa tạo ra một sự gia tăng đột biến về độ sâu tài chính", ông Minh nói.

