Vị tướng với những vần thơ viết về Học viện Hậu cần
Ông không nhận mình là thi sĩ, nhưng những vần thơ ông viết đã được nhiều nhạc sĩ nâng niu, phổ thành giai điệu. Ông không tự xem mình là nhà văn, vậy mà những trang viết, những câu chuyện ông kể lại được vinh danh trong các cuộc thi do Tổng cục Chính trị và Báo Quân đội nhân dân tổ chức. Với Học viện Hậu cần, ông dành trọn tâm huyết, lặng lẽ gieo vào đó những vần thơ mộc mạc mà sâu nặng nghĩa tình, như một cách tri ân mái trường thân yêu đã gắn bó cả một chặng đời binh nghiệp. Những vần thơ ông để lại nơi đây không chỉ là lời ngợi ca, mà còn là tiếng vọng của một đời người lính từng trải và kiên cường. Ông là Trung tướng, PGS, TS Đặng Nam Điền, nguyên Chính ủy Học viện Hậu cần.
Tôi gặp ông vào những ngày đầu Xuân Bính Ngọ 2026, một cuộc gặp mà tôi luôn xem là niềm vinh dự. Ở ông vẫn là dáng vẻ nhanh nhẹn, hoạt bát, cùng nụ cười sảng khoái, gần gũi. Ông đón tiếp tôi bằng sự chân tình mà đĩnh đạc của một người chỉ huy đã qua nhiều cương vị lãnh đạo và câu chuyện giữa chúng tôi lặng lẽ nối dài qua những vần thơ ông viết về Học viện từ những năm tháng còn giữ cương vị Chính ủy cho đến khi đã lui về đời thường.
Mở đầu câu chuyện, tôi dè dặt hỏi: “Thưa Trung tướng, bài thơ Tự hào Học viện Hậu cần của ông được viết trong hoàn cảnh nào?” Ông khẽ mỉm cười rồi kể chậm rãi bằng giọng nói trầm ấm của người tướng lĩnh, như đang lần giở từng lớp ký ức đã được chắt lọc qua năm tháng để rồi lắng đọng và kết tinh thành những vần thơ ấy. Ông nhớ lại những ngày trăn trở khi bắt tay viết bài thơ “Tự hào Học viện Hậu cần” nhân dịp kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Học viện (15-6-1951 / 15-6-2016).

Trung tướng, PGS, TS Đặng Nam Điền, nguyên Chính ủy Học viện Hậu cần.
Khi ấy, Học viện phát động cuộc thi viết về những kỷ niệm sâu sắc trong đội ngũ cán bộ, giảng viên, công nhân viên, học viên, sinh viên và chiến sĩ toàn trường. Mới nhận công tác chưa bao lâu, ký ức chưa kịp dày lên theo năm tháng, ông tự hỏi: Mình sẽ viết gì, viết từ đâu để xứng với truyền thống một mái trường Quân đội anh hùng? Câu hỏi ấy cứ trở đi trở lại, theo ông qua nhiều đêm suy tư. Văn xuôi ông không xa lạ. Trước đó, ông đã có những bài viết được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Hậu cần Quân sự như: “Sự chỉ đạo của đồng chí Trần Đăng Ninh đối với Lớp huấn luyện cán bộ cung cấp đầu tiên của Quân đội”, “Nhớ lời Bác dặn năm xưa…”.
Sau một chuyến đi về nguồn, trở lại mảnh đất nơi Bác Hồ và Trung ương từng lựa chọn để mở Lớp Huấn luyện cán bộ cung cấp đầu tiên của Quân đội (tỉnh Thái Nguyên), ông như được chạm vào mạch nguồn sâu thẳm của truyền thống. Từ điểm khởi đầu ấy, qua bao năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Học viện đã hun đúc nên bề dày truyền thống vẻ vang - truyền thống của trí tuệ, kỷ luật nghiêm minh, tinh thần tận tụy và sự hy sinh thầm lặng nơi hậu phương chiến lược của Quân đội. Nhận thức sâu sắc điều đó, ông càng thấm thía trách nhiệm của các thế hệ hôm nay từ cán bộ, giảng viên, công nhân viên đến học viên, hạ sĩ quan, chiến sĩ và sinh viên phải biết gìn giữ, tiếp nối và làm rạng danh truyền thống vẻ vang ấy. Chính từ dòng suy tưởng ấy, bài thơ “Tự hào Học viện Hậu cần” đã được ông viết nên như một lời tri ân quá khứ, một niềm tự hào hiện tại và một sự gửi gắm cho mai sau.
"Nhớ năm xưa, nơi chiến khu Việt Bắc,
Lời của Bác Hồ còn vang vọng mãi,
Công việc cung cấp cũng như ra trận.
Thúc giục chúng con vững bước lên đường.
Hôm nay đây, trên giảng đường Học viện,
Lớp lớp học viên học giỏi, rèn nghiêm.
Tiếp bước cha anh, phát huy truyền thống,
Tự lực, tự cường, vươn tới đỉnh cao.
Học viện Hậu cần, mái trường thân yêu
Cán bộ giảng viên, tấm gương ngời sáng
Chung sức, chung tay cùng nhau xây dựng
Mái trường sư phạm sáng mãi niềm tin
Học viện Hậu cần truyền thống vinh quang
Vững bước đi lên trên đường đổi mới
Vượt mọi khó khăn vững vàng đi tới
Mãi mãi xứng danh Học viện Anh hùng".
Ngay sau khi ra đời, nhạc sĩ Nguyễn Tuấn Anh đã phổ nhạc, và đến nay đã trở nên quen thuộc đối với các thế hệ cán bộ, học viên.
Ông kể cho tôi nghe về chuyến công tác năm 2013, khi lần đầu tiên ông theo đoàn công tác của Tổng cục Chính trị ra thăm quần đảo Trường Sa - nơi những người lính Hải quân lặng thầm ngày đêm canh giữ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Giọng ông trầm lại, như vẫn còn đượm vị mặn của gió biển năm nào. Giữa trùng khơi sóng gió, hình ảnh những người lính đảo với nước da sạm nắng, ánh mắt kiên nghị, dáng đứng vững vàng nơi đầu sóng ngọn gió đã khắc sâu trong ông một ấn tượng không thể nào quên. Chính từ sự xúc động sâu sắc ấy, bài thơ “Vững vàng trên quần đảo Trường Sa” đã ra đời. Ngay trong chuyến công tác, bài thơ được nhạc sĩ Đức Tân - giảng viên Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội, cùng đi trong đoàn phổ nhạc. Tác phẩm sau đó được các văn nghệ sĩ Đoàn nghệ thuật Biên phòng biểu diễn ngay khi kết thúc chuyến đi, như một lời tri ân gửi tới những người lính nơi đảo xa. Không dừng lại ở đó, ca khúc còn được Chương trình phát thanh Quân đội nhân dân giới thiệu trong chùm tác phẩm mới viết về cán bộ, chiến sĩ Hải quân và biển đảo quê hương, góp thêm một tiếng hát trong hành trình giữ gìn chủ quyền Tổ quốc.
Trở lại với ca khúc “Tự hào Học viện Hậu cần” do nhạc sĩ Tuấn Anh phổ nhạc, ông chậm rãi nhớ lại một kỷ niệm rất tự nhiên mà cũng đầy duyên phận. Hôm ấy, trong một buổi trao đổi với cán bộ, nhân viên Nhà văn hóa của Học viện, ông đọc lại bài thơ “Tự hào Học viện Hậu cần” để mọi người cùng nghe và góp ý. Không khí buổi gặp gỡ giản dị mà ấm áp, như một cuộc sẻ chia giữa những người cùng chung mái nhà Học viện. Chính tại đây, nhạc sĩ Tuấn Anh khi đó đang công tác tại Nhà văn hóa của Học viện đã bày tỏ mong muốn được phổ nhạc bài thơ của ông.
Bài hát “Tự hào Học viện Hậu cần” giản dị mà thiêng liêng, từ một bài thơ thấm đẫm tình cảm và niềm tự hào của người lính gắn bó với mái trường. Ca khúc là lời ngợi ca truyền thống vẻ vang, là tiếng nói của niềm tin và trách nhiệm, gửi gắm niềm tự hào về chặng đường xây dựng, phát triển của Học viện Hậu cần. Qua từng giai điệu, bài hát không chỉ khắc họa lịch sử và thành tựu, mà còn thể hiện rõ sứ mệnh tiếp nối của các thế hệ thầy và trò hôm nay, những người đang tiếp tục viết tiếp trang sử truyền thống bằng trí tuệ, kỷ luật và sự cống hiến thầm lặng. Hơn 10 năm qua, “Tự hào Học viện Hậu cần” đã trở thành giai điệu quen thuộc trong các sự kiện văn hóa, chính trị của Học viện, được thầy và trò cất lên với tất cả niềm xúc động và tự hào.
Để ông lắng lại trong những xúc cảm về ca khúc “Tự hào Học viện Hậu cần”, tôi khẽ hỏi tiếp: “Thưa Trung tướng, năm 2016, trong Hội diễn nghệ thuật quần chúng chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Học viện, ca khúc ‘Kỷ niệm mùa ôn thi’ - do Trí Dũng và Tuấn Anh phổ nhạc từ lời thơ của ông đã được các em sinh viên dân sự Hệ 5 thể hiện và đạt giải xuất sắc trong hội diễn, điều đó có đúng không ạ?” Ông khẽ gật đầu, rồi không chần chừ, đọc ngay cho tôi nghe bài thơ “Kỷ niệm mùa ôn thi”.
"Hè về dưới tán cây xanh,
Hai người bạn trẻ cùng nhau ôn bài.
Màu xanh áo lính thân thương,
Bên cạnh áo trắng nữ sinh dịu dàng.
Hè về rộn tiếng ve kêu.
Ngắm hàng phượng vĩ, nhớ thầy nhớ cô,
Nhớ người bạn gái sinh viên.
Mang theo cả nỗi niềm ai mong chờ.
Ước gì trở lại trường xưa,
Tìm về kỷ niệm mỗi mùa ôn thi.
Hàng cây ghế đá sân trường.
Con đường uốn lượn bên triền đê xanh.
Đây rồi những kỷ niệm xưa,
Tình thầy, tình bạn tình người thân thương.
Tháng năm còn mãi không phai,
Những dòng kỷ niệm của mùa ôn thi".
Đây là một bài thơ giàu chất trữ tình, thấm đượm màu ký ức; vừa trong trẻo, giản dị, vừa mang đậm dấu ấn riêng của môi trường học tập trong nhà trường Quân đội. Nổi bật trong tác phẩm là hình ảnh “màu xanh áo lính” sánh bên “áo trắng nữ sinh” - một nét chấm phá tiêu biểu của những cơ sở đào tạo vừa rèn luyện người lính, vừa bồi dưỡng sinh viên dân sự, trong đó có Học viện Hậu cần. Hình ảnh người lính - người học viên ngồi ôn bài bên cô gái sinh viên dưới tán cây xanh không chỉ gợi nên một khung cảnh đẹp, thơ mộng của tuổi trẻ, mà còn phản ánh chiều sâu nhân văn trong môi trường giáo dục Quân đội - nơi tình bạn, tình thầy trò và tình người được nuôi dưỡng rất tự nhiên mà bền chặt. Tôi nói thêm rằng, chính khi được phổ nhạc, bài thơ đã thực sự “sống” trong đời sống tinh thần của Học viện, trở thành giai điệu chạm tới cảm xúc của rất nhiều người, đặc biệt là các thế hệ học viên và sinh viên trẻ.
Liếc nhìn đồng hồ trên tay, tôi nhận ra cuộc trò chuyện với Trung tướng Đặng Nam Điền đã kéo dài khá lâu. Thế nhưng, trước một nhân chứng sống của bao câu chuyện giàu giá trị, tôi không muốn bỏ lỡ cơ hội hiếm có này, nên lại tiếp tục cuộc “phỏng vấn” ông. “Thưa Trung tướng, mặc dù đã nghỉ hưu, nhưng ông vẫn rất tích cực tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo đặc biệt là công tác tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ. Và với tình yêu dành cho Học viện, chúng tôi thấy ông vẫn tiếp tục có những bài viết, những vần thơ về Học viện Hậu cần trong công cuộc đổi mới hôm nay. Vậy xin ông cho biết, nguồn năng lượng và cảm hứng nào đã giúp ông vẫn miệt mài cống hiến như vậy?”
Ông lại cười vui vẻ, cho rằng, nguồn năng lượng và cảm hứng lớn nhất của ông chính là tình yêu đối với công việc với con người và với mái trường Học viện - nơi ông luôn dành trọn tình cảm và sự gắn bó. Ông yêu những con người nơi đây, trân trọng tình cảm mà cán bộ, giảng viên và học viên dành cho ông và luôn dõi theo từng bước trưởng thành, từng thành tích của Học viện bằng một niềm vui rất đỗi tự nhiên mà sâu nặng. Ông chia sẻ, chính sự gắn bó ấy đã tiếp thêm cho ông động lực để tiếp tục viết, tiếp tục sáng tạo, như một cách đồng hành cùng Học viện trong chặng đường đổi mới.
Ông dẫn chứng, ngay khi nhận được tin vui tháng 9-2025, Học viện tổ chức đón nhận Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ hai, ông đã xúc động viết bài thơ “Nhớ lời Bác dặn năm xưa”. Trong bài thơ ấy, ông như nối liền hai mốc thời gian thiêng liêng: Ngày 7-9-1958, khi Bác Hồ về thăm Trường Cán bộ Hậu cần và niềm vui trào dâng vào tháng 9-2025, khi Học viện vinh dự đón nhận danh hiệu Anh hùng lần thứ hai. Hai sự kiện cách nhau gần bảy thập kỷ nhưng lại hội tụ trong một mạch cảm xúc xuyên suốt - kết tinh từ niềm tin, truyền thống và bước trưởng thành vững chắc của Học viện hôm nay.
"Tháng Chín về, con bồi hồi nhớ Bác,
Nhớ nơi này, năm ấy Bác về thăm.
Giữa sân trường, Người ân cần căn dặn:
Trường Hậu cần phải học giỏi, làm chăm.
Tháng Chín này, niềm hạnh phúc trào dâng.
Chúng con về đây kính dâng lên Người,
Những chiến công của biết bao thế hệ,
Đã kết tinh thành Danh hiệu Anh hùng
Xưa Học viện Anh hùng trong kháng chiến,
Nay Anh hùng trong đổi mới dựng xây.
Lời Bác dặn vẫn còn vang xa mãi.
Mỗi chúng con luôn tạc dạ, ghi lòng.
Tháng Chín về, trước Tượng đài của Bác
Lớp lớp chúng con xin hứa với Người
Nguyện một lòng, cùng chung tay xây dựng
Học viện Anh hùng, đổi mới, vươn xa".
Cuộc trò chuyện cứ thế trôi đi trong không khí vừa trang trọng, vừa ấm áp. Những câu chuyện về thơ, về nhạc, về Học viện Hậu cần và những con người đã gắn bó cả đời với nó dường như xóa nhòa khoảng cách giữa người kể và người nghe. Những vần thơ ông viết, những ca khúc được chắp cánh từ thơ ấy không chỉ là tác phẩm nghệ thuật, mà còn là ký ức, là tình yêu, là sự tri ân lặng lẽ dành cho một mái trường quân đội giàu truyền thống. Và có lẽ, chính từ những điều bình dị mà sâu nặng ấy, hình ảnh người lính - người Chính ủy - người thi sĩ trong ông đã hòa làm một, lặng lẽ mà bền bỉ tỏa sáng cùng năm tháng.
Dù trong lòng vẫn muốn nán lại lâu hơn nữa để tiếp tục lắng nghe, để được hòa mình vào mạch cảm xúc đang còn ngân vang, nhưng thời gian không cho phép. Tôi đứng dậy, nghiêm trang chào Thủ trưởng, siết chặt tay ông trong một cái bắt tay ấm áp và trân trọng nói: “Cảm ơn ông, Trung tướng, PGS, TS Đặng Nam Điền đã dành thời gian tiếp và trò chuyện với tôi. Kính chúc ông thật nhiều sức khỏe, trí tuệ mẫn tiệp để tiếp tục có những vần thơ mới về Học viện Hậu cần thân yêu.” Trung tướng khẽ gật đầu, nụ cười hiền hậu vẫn đọng lại trong ánh mắt.
Khi cánh cửa khẽ khép lại, hình ảnh ấy dường như vẫn in sâu trong tâm trí tôi. Bước chân rời đi, tôi mang theo không chỉ những câu chuyện vừa được nghe, mà còn cả một dòng suy tưởng lắng sâu về con người, về thơ ca và về một Học viện Hậu cần đang vững vàng tiếp bước truyền thống, thắp sáng niềm tin, hun đúc ý chí và tự hào viết nên những trang sử mới.











