Việt Nam đặt mục tiêu điện hạt nhân chiếm 6-8% sản lượng điện quốc gia vào năm 2050
Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050, định hướng năng lượng nguyên tử trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của quốc gia, đồng thời phấn đấu vận hành hai nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận vào năm 2035...

Đến năm 2050, năng lượng nguyên tử được định hướng trở thành một ngành kinh tế – kỹ thuật quan trọng của quốc gia.
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược).
Chiến lược đặt mục tiêu phát triển và ứng dụng năng lượng nguyên tử theo hướng an toàn, an ninh, phục vụ hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, bảo vệ môi trường và củng cố an ninh năng lượng quốc gia, đồng thời góp phần hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
VẬN HÀNH 2 NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN NINH THUẬN VÀO NĂM 2035
Về phát triển điện hạt nhân, Chiến lược phấn đấu đến năm 2035, hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành an toàn 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2; phấn đấu mức tham gia của các doanh nghiệp trong nước đạt tỷ lệ 30% tổng mức đầu tư các hạng mục xây dựng, lắp đặt của các hạng mục phụ trợ dự án điện hạt nhân; phấn đấu triển khai ít nhất 1 dự án nhà máy điện hạt nhân sử dụng công nghệ lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ.
Hoàn thành phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt nhân; hoàn thành định hướng phát triển các dự án điện hạt nhân tiếp theo theo hướng an toàn, bền vững và hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Song song với đó, hoàn thành phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt nhân; hoàn thành định hướng phát triển các dự án điện hạt nhân tiếp theo theo hướng an toàn, bền vững và hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Về phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ, đến năm 2035 nâng quy mô và hiệu quả kinh tế của các ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành và lĩnh vực, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 10 - 15%/năm.
Y học bức xạ đạt trình độ tiên tiến trong các nước ASEAN, phấn đấu đạt 20 máy CT/triệu dân, 10 máy MRI/triệu dân, 1 máy xạ hình/triệu dân, từ 1 - 2 máy xạ trị gia tốc/triệu dân, đạt tỷ lệ 100% X-quang số.
Đồng thời, làm chủ các kỹ thuật hạt nhân và công nghệ bức xạ tiên tiến trong quản lý chất lượng công trình, chất lượng sản phẩm, tối ưu hóa quá trình công nghiệp, xử lý và biến tính vật liệu; chế tạo, sản xuất một số loại thiết bị bức xạ và thiết bị ghi đo bức xạ có nhu cầu lớn trong các ngành kinh tế - xã hội thay thế cho nhập khẩu...
Về phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển nguồn nhân lực, đến năm 2035 phát triển hệ thống các cơ sở nghiên cứu tiên tiến.
Trong đó tập trung đầu tư hình thành 2 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ điện hạt nhân, công nghệ đất hiếm, urani, titan; 3 - 5 phòng thí nghiệm tiên tiến; phấn đấu có 4 - 5 nhóm nghiên cứu có khả năng làm chủ một số công nghệ hạt nhân hỗ trợ các dự án điện hạt nhân và lò phản ứng nghiên cứu; đầu tư 3 - 5 cơ sở đào tạo đại học về điện hạt nhân đạt trình độ tiên tiến, ngang tầm quốc tế...
ĐIỆN HẠT NHÂN CHIẾM 6 - 8% TỔNG SẢN LƯỢNG ĐIỆN QUỐC GIA
Về tầm nhìn dài hạn, đến năm 2050, năng lượng nguyên tử được định hướng trở thành một ngành kinh tế – kỹ thuật quan trọng, đóng góp thiết thực vào an ninh năng lượng, phát triển kinh tế xanh và bền vững.
Theo đó, điện hạt nhân dự kiến đóng góp khoảng 6–8% tổng sản lượng điện quốc gia, với việc bổ sung thêm khoảng 4 lò phản ứng công suất lớn và 10–15 lò phản ứng mô-đun nhỏ. Tùy theo điều kiện kinh tế – kỹ thuật, quy mô và cơ cấu này có thể tiếp tục được điều chỉnh theo hướng tối ưu.
Đáng chú ý, Việt Nam hướng tới cơ bản làm chủ công nghệ hạt nhân, đồng thời phát triển các doanh nghiệp, tập đoàn trong nước có năng lực thiết kế, chế tạo, xây lắp và sản xuất thiết bị cho ngành điện hạt nhân.
Cùng với đó, các công nghệ bức xạ và kỹ thuật hạt nhân tiên tiến sẽ được ứng dụng rộng rãi trong y tế, công nghiệp, nông nghiệp, tài nguyên và môi trường, góp phần nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội. Một trung tâm máy gia tốc quy mô lớn cũng sẽ được đưa vào vận hành.
Về tổng thể, tiềm lực và trình độ khoa học – công nghệ hạt nhân của Việt Nam được kỳ vọng đạt mức trung bình của các nước phát triển, với cơ sở vật chất hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao, từng bước đưa Việt Nam trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng hạt nhân của khu vực Đông Nam Á.
Theo Chiến lược, việc phát triển điện hạt nhân sẽ được triển khai theo lộ trình linh hoạt, kết hợp hài hòa giữa các nhà máy công suất lớn và các lò phản ứng mô-đun nhỏ, đồng thời được cụ thể hóa bằng hệ thống cơ chế, chính sách và chương trình hành động đồng bộ













