Việt Nam hội đủ 3 yếu tố để chính sách đi vào cuộc sống
Tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu 4 bước chuyển chiến lược làm định hướng cho chặng đường phát triển mới của đất nước: thứ nhất, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành của Đảng và bộ máy Nhà nước; thứ hai, quản trị thống nhất không gian phát triển, phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia; thứ ba, xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người; thứ tư, chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước.

Ông Kyril Whittaker, nhà nghiên cứu người Anh, bên tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN phát
4 bước chuyển ấy tạo thành một chỉnh thể thống nhất, mỗi bước vừa tháo gỡ những điểm nghẽn hiện hữu, vừa mở ra dư địa phát triển mới, cùng hướng tới một mục tiêu xuyên suốt là sự phát triển bền vững, lấy con người làm trung tâm. Những định hướng ấy không chỉ thu hút sự chú ý trong nước, mà còn được giới nghiên cứu quốc tế quan tâm theo dõi.
Trao đổi với phóng viên TTXVN tại London, ông Kyril Whittaker, nhà nghiên cứu chính trị, lịch sử Việt Nam và cũng là đảng viên Đảng Cộng sản Anh đã đi sâu phân tích các bước chuyển ấy, từ điều kiện để chính sách đi vào cuộc sống, đến những dư địa hợp tác quốc tế mà quá trình chuyển đổi xanh mở ra cho Việt Nam.
Với bước chuyển thứ nhất, ông cho rằng để chính sách đi vào cuộc sống một cách thiết thực, cần bảo đảm 3 yếu tố then chốt: thứ nhất, một cơ cấu thống nhất để triển khai chính sách; thứ hai, chính sách bắt rễ trong thực tiễn khách quan và cuối cùng, sự ủng hộ của toàn xã hội. Điều đáng chú ý, theo ông, là ở Việt Nam cả ba yếu tố ấy đều hiện diện.
Yếu tố thứ nhất là sự thống nhất trong hành động giữa trung ương và địa phương, được bảo đảm bằng một cơ chế quản lý thông suốt, có kỷ cương, trong đó pháp luật và cách thức thực thi đều rõ ràng ở từng cấp. Yếu tố thứ hai đòi hỏi chính sách phải bám sát thực tiễn của mỗi địa phương.
Ông Whittaker lưu ý rằng "các địa phương khác nhau trải qua những vấn đề khác nhau", đồng thời nhấn mạnh, cách tiếp cận này thống nhất với định hướng mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu ở bước chuyển thứ hai: "cần đánh giá kỹ điều kiện hạ tầng, nguồn lực, chi phí vận hành và tác động đối với nhân dân, bảo đảm mỗi đề án tạo ra giá trị phát triển mới cho địa phương, vùng và cả nước".
Dành nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam, ông Whittaker đặt vấn đề này trong chiều dài lịch sử. Nhắc tới quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, ông cho biết, nhà lãnh đạo này "luôn nhất quán tìm cách xem xét thực tế việc thực thi chính sách ở cơ sở, tại các nông trường, nhà máy, công trình hạ tầng, hộ gia đình, tổ chức và nhiều nơi khác".
Từ đó, ông Whittaker dẫn tới yếu tố thứ ba, cũng là yếu tố ông xem là thiết yếu: sự đồng thuận của nhân dân. Ông nhắc lại lời Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong", như một cách khẳng định rằng mọi chính sách, xét đến cùng, đều phải vì lợi ích của nhân dân và dựa vào sự tham gia, ủng hộ của nhân dân.
Nếu hai bước chuyển đầu đặt ra bài toán thực thi, thì hai bước chuyển sau, về mô hình tăng trưởng mới và phát triển bền vững, lại mở ra câu chuyện hợp tác. Ở đây, ông Whittaker nhìn quá trình chuyển đổi xanh như một dư địa để Việt Nam vươn ra bên ngoài.
Ông đánh giá năng lượng tái tạo và các nguồn năng lượng sạch là một tất yếu của thời đại: "Năng lượng tái tạo và các dạng năng lượng sạch hơn phần nào đã trở thành một tất yếu, trong bối cảnh các quốc gia cùng cam kết thực hiện những mục tiêu khí hậu toàn cầu".
Từ quan sát cá nhân, ông ghi nhận việc sử dụng các tấm pin Mặt Trời khá phổ biến tại Việt Nam, đồng thời đánh giá cao những nỗ lực bền bỉ của Việt Nam trong giảm ô nhiễm từ giao thông: hoàn thiện chính sách, phát triển mạng lưới giao thông công cộng, khuyến khích người dân sử dụng phương tiện công cộng qua hình thức miễn, giảm giá vé.
Điều để lại ấn tượng với vị học giả người Anh còn là cách con người Việt Nam gắn bó với thiên nhiên. Ông nhận xét: "Việt Nam nổi tiếng với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và với sự gần gũi, chan hòa của con người với thiên nhiên", khi ngay giữa những đô thị lớn vẫn có thể bắt gặp những khoảng xanh, những không gian được dựng nên hài hòa với môi trường sống.
Ông cũng đánh giá cao thành quả của Việt Nam trong trồng và phục hồi rừng, cho rằng đây là kinh nghiệm "mà nhiều quốc gia trên thế giới có thể học hỏi". Ở tầm chính sách, định hướng phát triển bền vững ngày càng được thể chế hóa mà một ví dụ là Nghị quyết số 188/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, gắn phát triển đô thị với giao thông công cộng theo mô hình TOD (phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng).
Trên nền tảng ấy, hợp tác quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực xanh ngày càng rộng mở. Việt Nam đang triển khai dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên với sự hợp tác của Liên bang Nga, mở rộng hợp tác với Vương quốc Anh trong bảo vệ vùng ven biển, tăng cường sức chống chịu của hệ sinh thái gắn với sinh kế bền vững cho ngư dân. Việt Nam cũng chia sẻ kinh nghiệm phát triển năng lượng tái tạo với những người bạn Cuba.
Từ góc nhìn của ông Kyril Whittaker, có thể thấy một mạch liên kết chặt chẽ: năng lực thực thi vững vàng từ bên trong tạo tiền đề để Việt Nam mở rộng hợp tác, hội nhập sâu hơn với thế giới. Dù là củng cố nội lực hay mở rộng hợp tác, điểm quy chiếu vẫn là con người và sự phát triển bền vững, nơi mỗi chính sách được đo bằng giá trị thực mà nó mang lại cho đời sống nhân dân, và mỗi bước hội nhập đều hướng tới một tương lai xanh hơn, bền vững hơn cho đất nước.
